0936 292 319 |

lienhe@spmamnon.edu.vn

Ứng dụng một số phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

11/9/2018 3:57:00 PM

Phần 1: Ứng dụng một số phương pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non

Ngay từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời, ngôn ngữ phát triển rất mạnh mẽ, tạo ra những điều kiện cơ hội để trẻ lĩnh hội những kinh nghiệm lịch sử - xã hội của nền văn hoá loài người.

Đối với trẻ em, sự phát triển ngôn ngữ được chia làm 2 giai đoạn: giai đoạn tiền ngôn ngữ (dưới 12 tháng tuổi) và giai đoạn ngôn ngữ (từ 12 tháng tuổi trở lên). Ngôn ngữ cũng đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc phát triển tư duy, hình thành và phát triển nhân cách; là công cụ để trẻ giao tiếp, học tập, vui chơi…

Phương pháp phát triển ngôn ngữ gồm có 4 nhóm:

- Nhóm phương pháp trực quan: cho trẻ tiếp xúc với vật thật, quan sát, tha, quan, xem phim

- Nhóm phương pháp dùng lời nói: đọc thơ, kể chuyện, đàm thoại, nói mẫu, giảng giải, câu hỏi.

- Nhóm phương pháp thực hành: qua giao tiếp, hoạt động, lao động.

- Nhóm phương pháp sử dụng trò chơi: trò chơi luyện phát âm, luyện thở ngôn ngữ, phát triển vốn từ, nói đúng ngữ pháp, nói mạch lạc...

Một số phương pháp được ứng dụng trong phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non trong giai đoạn hiện nay là:

1. Cho trẻ tiếp xúc với vật thật

Là hình thức cô cho trẻ được tiếp xúc với từng vật cụ thể qua đó giúp trẻ nhận biết, tri giác vật một cách khái quát và cụ thể từng chi tiết, từ được gọi chính xác với vật và đặc điểm của vật. Trong khi xem xét, giáo viên kết hợp chỉ vào vật hoặc từng chi tiết, đặc điểm của vật với từ được gọi (trong trường hợp không có vật thật, giáo viên cho trẻ tiếp xúc với đồ chơi, tranh ảnh…).

Hình thành kĩ năng quan sát khi cho trẻ tiếp xúc với vật thật: Là dạy trẻ sử dụng những giác quan, bộ máy vận động của mình để tích lũy dần dần những kinh nghiệm, những hình ảnh, những biểu tượng và kỹ xảo ngôn ngữ. Khi tổ chức quan sát, không nên chỉ hướng sự chú ý của trẻ vào các sự vật và hiện tượng riêng lẻ, mà cần phải làm cho trẻ thấy được mối quan hệ giữa chúng. Điều đó giúp trẻ suy nghĩ mạch lạc và biểu hiện những ấn tượng của mình bằng lời nói trôi chảy.

Ví dụ: Quan sát lá cây để nhận biết được gió mạnh hay gió nhẹ.

2. Đọc biểu tượng

Biểu tượng trong tiếng Hán: Biểu có nghĩa là: "bày ra", "trình bày", "dấu hiệu", để người ta dễ nhận biết một điều gì đó.Tượng có nghĩa là "hình tượng". Biểu tượng là một hình tượng nào đó được phô bày ra trở thành một dấu hiệu, ký hiệu tượng trưng, nhằm để diễn đạt về một ý nghĩa mang tính trừu tượng.

Đây là cách học ngôn ngữ không phải chương trình “làm quen” với chữ viết. Trẻ em học và luyện nói tiếng Việt theo cách sau:

Đối với trẻ em mầm non “đọc” biểu tượng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng để phát triển sự phong phú, đa dạng về ngôn ngữ cho trẻ. Mỗi trẻ có một cách đọc biểu tượng khác nhau. Vì dụ: nhìn biểu tượng “cái cốc”, mỗi trẻ có thể “đọc” theo cách của mình:

- Cái cốc dùng để uống nước.

- Cái cốc làm bằng nhựa.

- Cái cốc này rất đẹp. v.v…

Trong một hoạt động phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non “đọc biểu tượng” khoảng 20 – 30 phút thông thường giáo viên tổ chức gồm ba việc làm sau (không giảng giải):

Bước 1: Tổ chức cho trẻ xem biểu tượng (2-3 phút) tương tự như học sinh có một văn bản để đọc.

Bước 2: Mô tả biểu tượng (10 - 12 phút) tương tự như chuẩn bị giúp học sinh đọc đúng tiếng và tìm hiểu từ ngữ bài đọc.

Bước 3: Đọc biểu tượng (5 phút) – tương tự như việc học sinh đã đọc đúng và hiểu ý nghĩa bài đọc.

Qua đó trẻ có cơ hội tưởng tượng vốn từ rất phong phú và đa dạng, trẻ được nói lên ý hiểu của mình về biểu tượng, trẻ tưởng tượng ra nhiều nội dung về biểu tượng, trẻ trình bày mẫu câu, kiểu câu khác nhau...

3. Sử dụng phần mềm

Phát triển ngôn ngữ trừu tượng dễ hiểu và biểu cảm kỹ năng là một kỹ năng nền tảng quan trọng vào đầu giáo dục thời thơ ấu. Gần đây, trong giáo dục mầm non các chuyên gia đã bắt đầu sử dụng công nghệ thông tin dựa trên hỗ trợ trong việc phát triển những kỹ năng ngôn ngữ cho trẻ. Một số phần mềm ứng dựng công nghệ thông tin có tiềm năng trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ mầm non như:

- Chương trình, phần mềm Kidsmart

- Chương trình Bé Vui học

- Chương trình Bút chì thông mình…

Trong mỗi chương trình, phần mềm đã được thiết kế bằng ngôn ngữ trẻ thơ có hình ảnh, âm thanh, nhạc… giúp trẻ thích khám phá, học hỏi, kích thích cho việc phát triển vốn từ ở trẻ.

4. Hệ thống giao tiếp bằng trao đổi tranh

Đây là một phương pháp rất thực tế và hấp dẫn trẻ, cho hiệu quả cao trong phát triển ngôn ngữ và phát triển nhận thức, đặc biệt là có ý nghĩa trong việc phát triển vốn từ và khả năng hội thoại trong giao tiếp. Phương pháp này nhấn mạnh vào sự trao đổi có ý nghĩa thay vì dạy trẻ những âm thanh hay lặp lại những từ cụ thể.Trẻ sẽ trao đổi về một thứ mà trẻ thích với cha mẹ thông qua bức tranh.

Ví dụ: khi trẻ đói trẻ có thể chọn bức tranh cốc sữa, khi trẻ muốn đi chơi trẻ có thể chọn bức tranh đôi giày.

Trong PECS, ngôn ngữ lời nói được thay thế bằng việc sử dụng thẻ hình cho giao tiếp, đặc biệt có ý nghĩa đối với trẻ ở giai đoạn tiền ngôn ngữ. Khi trẻ chưa có ngôn ngữ hoặc ngôn ngữ bị hạn chế, hình ảnh sẽ giúp trẻ yêu cầu người khác và thực hiện yêu cầu của người khác. Hình ảnh lúc này là trung gian để chuyển tải thông tin diễn ra mối quan hệ tương tác giữa trẻ và người lớn. PECS góp phần củng cố sự phát triển ngôn ngữ cho trẻ mạch lạc và chắc chắn hơn.

5. Can thiệp phát triển quan hệ

Mỗi trẻ em là một cá thể có sự khác biết riêng, khi tiến hành phát triển ngôn ngữ cho trẻ không được đánh đồng mọi trẻ em như nhau, cần chú ý tới yếu tố cá biệt.

Phương pháp can thiệp phát triển quan hệ là một phương pháp để giúp trẻ học, khám phá cuộc sống, giúp liên kết các phần chức năng khác nhau trong não của trẻ cùng phối hợp làm việc với nhau và có chức năng như một tổng thể chứ không phải các cơ quan rời rạc. Hình thành ở trẻ mối quan hệ bản thân trẻ với cuộc sống tự nhiên, cuộc sống xã hội xung quanh.

Khi sử dụng phương pháp RDI cần nhấn mạnh đến yếu tố làm thế nào để trẻ có được sự thích thú tham gia vào quá trình giao tiếp, huy động sự tham gia tối đa của các giác quan như thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác, xúc giác… giúp trẻ bộc lộ khả năng hồi tưởng kỷ niệm trong trí nhớ dài hạn về vốn từ, mẫu câu để trẻ sử dụng vào trong quá trình trao đổi thông tin, giải quyết nhiệm vụ, nội dung giao tiếp.

Còn tiếp

TS. Nguyễn Thị Thanh

Trường MNTH Hoa Sen - Cao đẳng sư phạm Trung Ương

Nguồn tin: Tạp chí GDMN số 02-2016: