Xây dựng các biện pháp hình thành một số thao tác tư duy cho trẻ 5-6 tuổi qua hoạt động làm quen với hình dạng

Thứ hai - 08/10/2018 00:40
Chia sẻ một số biện pháp hình thành các thao tác tư duy cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với hình dạng cụ thể là: Xây dựng môi trường học tập; Sử dụng hệ thống bài luyện tập; Sử dụng phiếu học tập trong quá trình dạy học; Sử dụng hệ thống trò chơi học tập; Sử dụng tình huống có vấn đề.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ:

Làm quen với biểu tượng sơ đẳng về toán có vị trí, vai trò quan trọng trong cuộc sống của trẻ, giúp trẻ mẫu giáo lớn nhận thức thế giới xung quanh trong các mối quan hệ về hình dạng, kích thước, vị trí trong không gian, quan hệ về số lượng, đồng thời giúp trẻ chuẩn bị tốt về kiến thức, năng lực chuẩn bị tốt tâm thế vào trường phổ thông. Trong bài viết này, chúng tôi xin chia sẻ  một số biện pháp hình thành các thao tác tư duy cho trẻ 5-6 tuổi thông qua hoạt động làm quen với hình dạng cụ thể là: Xây dựng môi trường học tập; Sử dụng hệ thống bài luyện tập; Sử dụng phiếu học tập trong quá trình dạy học; Sử dụng hệ thống trò chơi học tập; Sử dụng tình huống có vấn đề

2. NỘI DUNG:

2.1. Nguyên tắc xây dựng các biện pháp hình thành một số thao tác tư duy cho trẻ 5-6 tuổi qua hoạt động làm quen với hình dạng

2.1.1. Góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục mầm non, tạo tiền đề phát triển nhân cách toàn diện cho trẻ và chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông.

Bộ Giáo dục đã quy định mục tiêu giáo dục mầm non như sau: “…Hình thành ở trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người mới Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa:
 
  • Khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa cân đối.
  • Giàu lòng thương, biết quan tâm, nhường nhịn, giúp đỡ người gần gũi (cha mẹ, bạn bè…), thật thà, mạnh dạn, hồn nhiên
  • Thông minh, ham hiểu biết. thích tìm tòi khám phá thế giới xung quanh có một số kỹ năng cơ bản: quan sát, phân tích- tổng hợp, so sánh, khái quát hóa…cần thiết đề vào trường phổ thông”.
Nội dung chương trình hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ là một trong những nội dung của chương trình chăm sóc- giáo dục trẻ mầm non. Giáo dục trẻ mầm non làm cho trẻ có một thể trạng tốt. Một trí tuệ phát triển, trẻ ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi và có một số thao tác tư duy để tạo tiền đề cho trẻ học tập ở trường phổ thông.

Các thao tác tư duy giúp trẻ nắm được những dấu hiệu đặc trưng của các hình hình học, đồng thời giúp trẻ phân biệt các hình hình học và khái quát các hình hình học theo các dấu hiệu khác nhau. Từ đó hình thành ở trẻ lòng kiên trì, sự nỗ lực, biết vận dụng các kiến thức, kỹ năng đã nắm được vào các hoàn cảnh khác nhau để hoàn thành nhiệm vụ nhận biết hình dạng của các vật có ở xung quanh trẻ.

Như vậy, có thể nói rằng: việc hình thành biểu tượng toán học nói chung và làm quen với hình dạng nói riêng phối hợp với các nội dung giáo dục khác góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục nói trên, đồng thời tạo tiền đề phát triễn nhân cách, chuẩn bị cho trẻ vào trường phổ thông.

2.1.2. Góp phần thực hiện nội dung giáo dục trí tuệ cho trẻ mầm non và nội dung hình thành biểu tượng hình dạng

Sự phát triển trí tuệ của trẻ được diễn ra trong quá trình trẻ tham gia vào các hoạt động: hoạt động với đồ vật, hoạt động tạo ra sản phẩm, trò chơi, lao động, học tập, giao tiếp. Sự phát triển trí tuệ có hiệu quả nhất diễn ra đưới tác động dạy học và giáo dục. Sự phát triển trí tuệ có ý nghĩa đối với toàn bộ hoạt động và sự phát triển sau này của trẻ, đặc biệt nó có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị những điều kiện để học tập có kết quả ở trường phổ thông sau này.

Trong quá trình giáo dục, dưới tác động của các biện pháp dạy học phù hợp ở trẻ không chỉ nắm vững được tri thức về toán học sơ đẳng nói chung và về biểu tượng hình dạng nói riêng mà còn hình thành quá trình tư duy và phát triển năng lực trí tuệ của trẻ.
Trong chương trình giáo dục mẫu giáo đã chỉ ra: “các giờ học tạo ra khả năng đảm bảo cho sự phát triển trí tuệ của trẻ. Nội dung giáo dục trí tuệ trong quá trình dạy học ở các giờ học đã được xây dựng trong chương trình giáo dục mẫu giáo”

Như vậy, nội dung nhận thức phải được xây dựng sao cho vừa sức với trẻ và chúng phải phát triển những năng lực trí tuệ của trẻ. Đồng thời, một số biện pháp hình thành một số thao tác tư duy cho trẻ phải phù hợp với lứa tuổi và sự phát triển trí tuệ của trẻ. Vậy, có thể nói rằng: việc tổ chức cho trẻ làm quen với hình dạng vật thể cùng với các hoạt động khác đã góp phần phát triển trí tuệ cho trẻ và thực hiện nội dung hình thành biểu tượng hình dạng.

2.1.3. Phù hợp với đặc điểm nhận thức, đặc điểm phát triển biểu tượng về hình dạng của trẻ 5-6 tuổi

Để nhận thức thế giới xung quanh nói chung và các biểu tượng toán học nói riêng, trẻ mẫu giáo đã sử dụng nhận thức cảm tính là chủ yếu. Nhờ vào sự phát triển của cảm giác và tri giác mà vốn biểu tượng toán học của trẻ phong phú và đa dạng. Nhưng quá trình nhận thức của trẻ thường mang tính không chủ định, nên các biện pháp tác động cần hướng tới sự phát triển hoạt động nhận biết của trẻ theo hướng có chủ định.

Ở trẻ 5-6 tuổi, tư duy trực quan hình tượng chiếm ưu thế, ngoài ra một kiểu tư duy mới xuất hiện đó là tư duy trực quan sơ đồ. Song song với sự phát triển về tư duy của trẻ, vốn biểu tượng hình dạng của trẻ cũng ngày càng phát triển, trẻ nhận biết hình dạng  cùng những chi tiết của nó ngày càng chính xác hơn. Hơn nữa, nội dung nhận biết càng phức tạp thì trí tuệ của trẻ càng phải hoạt động tích cực, vì vậy óc suy luận của trẻ 5-6 tuổi càng phát triển. Trẻ biết tìm hiểu hình dạng của vật một cách có trình tự và có hệ thống bằng hai tay. Từ những đặc điểm trên mà giáo viên đưa ra các biện pháp tác động phù hợp với trẻ 5-6 tuổi.

2.1.4. Phát huy tính tích cực, độc lập, linh hoạt của trẻ trong quá trình hoạt động

Để phát huy tính tích cực, độc lập linh hoạt của trẻ trong quá trình hoạt động, trong quá trình dạy học cần phải đặt sử dụng cá biện pháp gây hứng thú cho trẻ: như đưa trẻ vào các tình huống có vấn đề để buộc trẻ phải suy nghĩ tìm tòi ra cách giả quyết chúng. Ví dụ các tình huống trẻ phải sử dụng kỹ năng phân tích- tổng hợp của bản thân để so sánh hình dạng của hai đối tượng khác nhau. Mặt khác, trong quá trình dạy học giáo viên phải chú ý tới hệ thống câu hỏi vừa mang tính gợi mở, vừa mang tính dẫn dắt để trẻ sáng tạo trong câu trả lời của mình

Ngoài ra, giáo viên phải chú ý tới nội dung chương trình phải phù hợp với nhận thức của trẻ. Nội dung phải phong phú và có sự luân chuyển từ dễ đến khó, đơn giản đến phức tạp, tái tạo đến sáng tạo để giúp trẻ chuyển từ sự tích cực hoạt động đến tích cực tư duy. Thời gian hoạt động cũng là một yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực, linh hoạt của trẻ trong quá trình hoạt động.
 


2.2. Xây dựng các biện pháp hình thành một số thao tác tư duy cho trẻ 5-6 tuổi qua hoạt động làm quen với hình dạng

2.2.1. Sử dụng hệ thống bài luyện tập

K.D Uinxki đã từng chỉ ra rằng: Luyện tập có một ý nghĩa to lớn trong sự phát triển của hoạt động trí óc.Luyện tập là trường học của tư duy.

Luyện tập không chỉ góp phần vào việc giúp trẻ nắm vững và củng cố các biểu tượng, kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo( như kỹ năng phân tích, so sánh, kỹ năng đếm…) một cách đầy đủ và biết áp dụng chúng vào những điều kiện khác nhau, mà còn hoàn thiện quá trình tâm lý- một thành phần của hoạt động phân tích- tổng hợp, sự nhanh trí…phương pháp hoạt động thực tiễn, năng lức nhận thức của trẻ cũng phát triển.

Luyện tập có thể được sử dụng với tư cách như là một hình thức dạy học, cũng có khi nó được sử dụng như một thủ thuật, một biện pháp trên tiết học và trong trò chơi học tập. Trong đề tài này, chúng tôi chỉ nghiên cứu luyện tập với tư cách là một biện pháp dạy học được sử trên các hoạt động chung làm quen với hình dạng của trẻ.

Luyện tập thuộc về nhóm các phương pháp thực hành. Trong đó trẻ được lặp lại nhiều lần các thao tác trí tuệ cũng như thao tác thực hành của nội dung học tập. Thông qua việc luyện tập, những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo học tập của trẻ trở nên vững chắc và có ý thức. Từ đó, năng lực trí tuệ của trẻ được hoàn thiện và củng cố.

Khi tổ chức cho trẻ thực hiện các bài luyện tập khác nhau, giáo viên phải cố gắng sao cho tấ cả trẻ lĩnh hội được kiến thức kỹ năng. Kết quả thực hiện các bài tập được thể hiện ra bên ngoài qua lời nói, hành động và sản phẩm của trẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên kiểm tra quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng của trẻ và để trẻ tự kiểm tra được mình. Vì vậy luyện tập trở thành biện pháp dạy học có hiệu quả.

Sự lĩnh hội kiến thức, kỹ năng là một quá trình lâu dài. Nó đòi hỏi phải có sự luyện tập nhiều lần với các bài luyện tập có tính chất khác nhau không chỉ về nội dung mà cả về cấu trúc cũng như hệ thống biến pháp, thao tác. Tương ứng với những nhiệm vụ luyện tập, giáo viên có thể sử dụng các bài luyện tập đòi hỏi ở trẻ mức độ tích cực, độc lập khác nhau.Những bài luyện tập đó được quy chung thành hai dạng bài tập đó là bài tập tái tạo và bài tập sáng tạo.

Với bài tập tái tạo: là bài tập có tính chất sao chép, giáo viên đặt ra nhiêm vụ và chỉ ra biện pháp giả quyết nhiệm vụ đó một cách trực tiếp. Dựa trên những điều đã biết hoặc các thao tác mẫu của giáo viên, trẻ có thể giải quyết được bài tập một cách không mấy  khó khăn và trình tự thao tác trong lúc giải bài tập giống như cái trẻ đã biết. Trong những lần sau, nội dung của bài tập có thể thay đổi về điều kiện nhưng sự thay đổi này không làm xáo trộn trình tự giải bài tập hoặc sự chỉ dẫn trực tiếp của gai1o viên bằng lời nói, hành động được thay bằng lời gợi mở, bằng sự tích cực vận động ở trẻ trong việc tìm cách giải quyết.

Với bài tập sáng tạo: mức độ yêu cầu của dạng bài tập này cao hơn. Sự hướng dẫn của giáo viên lúc này là đặt ra nhiệm vụ đồng thời tạo những điều kiện để thực hiện nó mà không đưa ra những chỉ dẫn cụ thể về những hành động mà trẻ tiến hành. Khi giảng dạy bài tập này đòi hỏi trẻ sử dụng những biện pháp đã lĩnh hội vào trong những điều kiện mới, đồng thời đòi hỏi cả việc sử dụng những thao tác, biện pháp mới mà trẻ chưa được học.

Việc chuyển dần các bài tập luyện tập theo hệ thống từ dễ đến khó, từ mức độ tích cực, độc lập thấp đến mức độ tích cực, độc lập cao hơn sẽ tạo điền kiện để trẻ lĩnh hội được kiến thức và các biện pháp, các thao tác hợp lý, đồng thời phát triển tính tích cực tư duy và hành động của trẻ. Điều đó dẫn tới việc hình thành ở trẻ mức độ lĩnh hội kiến thức và khái quát những kiến thức đó cao hơn.

Trong quá trình tổ chức luyện tập cho trẻ, đồ vật, đồ chơi, đồ dùng đa dạng là điều kiện không thể thiếu.Việc lĩnh hội kiến thức và các biện pháp hành động trước tiên diễn ra dưới dạng mở rộng, tức là trẻ thao tác với đồ vật hay hình vẽ.

Ngoài ra, sự thao tác nói thầm trong quá trình luyện tập với đồ vật sẽ chuẩn bị cho trẻ chuyển tới giải quyết các bài tập bằng lời nói có tính chất vận động mà không có việc sử dụng đồ vật. Các bài tập bằng lời có vai trò đặc biệt trong quá trình phát triển trí tuệ cho trẻ, giúp trẻ phát triển trí tưởng tượng, óc tư duy tích cực…

Nhờ việc giải quyết những bài tập dạng này ở trẻ hình thành những kỹ năng diễn đạt những suy nghĩ của mình một cách chính xác và rỏ ràng, hình thành các suy luận đúng đắn, lời nói trở nên mạch lạc.

Khi tổ chức luyện tập cho trẻ cần đảm bảo một số nguyên tắc sau:
  • Các nhiệm vụ học tập đưa đến cho trẻ cần đảm bảo sự chính xác, rõ ràng, có sự chỉ dẫn vế các biện pháp thực hiện.
  • Việc hướng dẫn của giáo viên phải rõ ràng theo một trình tự nhất định phù hợp với lức tuổi của trẻ. Cụ thể trẻ mẫu giáo lớn có khả năng tái tạo lại các thao tác trên cơ sở hướng dẫn bằng lời, kết hợp chỉ dẫn chỗ khó.
  • Các bài tập phải được tăng dần mức độ khó phù hợp với khả năng của trẻ.
  • Các bài tập luyện tập cần được tiến hành thường xuyên với các hình thức tổ chức khác nhau.
Hệ thống các bài luyện tập được sử dụng trong các hoạt động chung cho trẻ làm quen với hình dạng, bao gồm các dạng bài tập sau:
  • Nhận biết, phân biệt các hình hình học: hình vuông, hình chữ nhật, hình tròn, hình tam giác và các hình khối: khối vuông và khối chữ nhật, khối cầu, khối trụ…
  • Phân biệt sự giống nhau và khác nhau giữa các hình hình học phẳng: hình tròn, hình vuông , hình chữ nhật, hình tam giác và các hình khối: khối cầu, khối trụ, khối vuông và khối chữ nhật trên cơ sở đó so sánh hính dạng của các vật.
  • Phân loại các hình hình học theo một số dấu hiệu đặc trưng của các hình như: theo cấu tạo đường bao quanh hình, theo số lượng góc, cạnh; các mặt khối, hình dạng của các mặt khối, độ dài các cạnh…
2.2.2. Sử dụng hệ thống trò chơi học tập

Mục tiêu sử dụng của biện pháp dạy học này là: thông qua hệ thống trò chơi học tập mà kích thích hứng thú và nâng cao mức độ hình thành một số thao tác tư duy cho trẻ 5-6  tuổi qua hoạt động làm quen với hình dạng.

Một trong những đặc điểm nổi bật của trẻ mẫu giáo là lấy hoạt động vui chơi làm hoạt động chủ đạo. Trẻ học thông qua trò chơi. Chính vì vậy việc xây dựng và sử dụng hệ thống trò chơi phù hợp với khả năng và nhu cầu của trẻ sẽ nâng cao hứng thú của trẻ đối với tiết học và phát triển tính tích cực, độc lập, sáng tạo của trẻ trong quá trình học tập.

Trò chơi học tập có vị trí đặc biệt quan trọng hơn trong trí dục. Trong trò chơi này nội dung nhận thức và việc thực hiện các nhiệm vụ trí tuệ có tính chất bắt buộc, song đối với trẻ lại diễn ra dưới hình thức một trò chơi, nên hình thức học tập qua trò chơi vẫn gây hứng thú cho trẻ và kích thíc tính tích cực nhận thức của trẻ.

Trò chơi học tập là sự kết hợp giữa các yếu tố dạy học và chơi. Nguồn gốc này có thể tìm thấy qua các trò chơi dân gian tồn tại lâu đời qua nhiều thế hệ. Đặc điểm của trò chơi học tập thể hiện mối quan hệ đầm ấm giữa những người chơi, thể hiện tính hồn nhiên, mộc mạc, chân thực qua xúc cảm của người chơi trò chơi đem lại.

Tuy nhiên, trò chơi học tập vẫn đòi hỏi sự nghiêm túc của người chơi trước nhu cầu giải quyết nhiệm vụ đặt ra trong trò chơi với mức độ hoạt động trí tuệ cao.

Bản chất của trò chơi học tập là: trong trò chơi học tập, trẻ giải quyết nhiệm vụ học tập duới hình thức chơi nhẹ nhàng, thoải mái làm cho trẻ dễ dàng vượt qua những khó khăn trở ngại nhất định vì trẻ tiếp nhận nhiệm vụ học tập như một nhiệm vụ chơi, do đó nâng cao tính tích cực của hoạt động nhận thức trong lúc chơi.

Bất kỳ trò chơi học tập nào cũng được cấu tạo bởi 3 phần: nội dung chơi, hành động chơi, luật chơi.

Nội dung chơi: đây chính là nhiệm vụ học tập, nó có tính chất như một bài toán mà trẻ phải giải quyết dựa trên những điều kiện đã cho. Nội dung chơi là thành phần cơ bản cuả trò chơi học tập, nó khơi gợi hứng thú sinh động của trẻ, kích thích tính tích cực và nguyện vọng chơi của trẻ.

Hành động chơi: là những hành động trẻ làm trong lúc chơi. Những hành động đó càng phong phú thì số trẻ tham gia trò chơi càng nhiều và bản thân trò chơi càng lý thú hơn.

Luật chơi: mỗi trò chơi học tập đều có luật do nội dung chơi quy định. Những luật này có vai trò to lớn: nó các định tính chất, phương pháp hành động, tổ chức và điều khiển hành vi cùng mối quan hệ lẫn nhau của trẻ trong khi chơi. Những luật chơi trong trò chơi học tập đều là tiêu chuẩn đánh giá hành động chơi đúng hay sai.

Trong trò chơi học tập ba bộ phận trên có liên quan chặt chẽ với nhau và chỉ cần thiếu một trong ba bộ phận đó thì không thể tiến hành trò chơi được.

* Trò chơi học tập có rất nhiều loại: có thể phân loại các trò chơi theo nội dung, theo nhiệm vụ và theo tính chất của họat động chơi và luật chơi.

Phân loại tính chất của trò chơi thì trò chơi học tập phân làm bốn nhóm sau:
 
  • Trò chơi học tập với đồ vật và tranh in.
  •  Trò chơi lô tô
  • Trò chơi học tập bằng lời.
  • Trò chơi âm nhạc.
Theo cách phân loại của V.N Avanhexova thì trò chơi học tập bao gồm:
  • Trò chơi giao nhiệm vụ
  • Trò chơi dấu và tìm
  • Trò chơi câu đố và giải đáp
  • Trò chơi thi đua
  • Trò chơi tưởng tượng.
Trò chơi học tập với trẻ mẫu giáo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục trí tuệ và phát triển toàn diện nhân cách trẻ. Nó tác động trực tiếp đến việc củng cố kiến thức và phát triển các quá trình nhận thức như cảm giác, tri giác, tư duy, tường tượng…Qua trò chơi, trẻ phải giải quyết một số nhiệm vụ của trí lực, lĩnh hội kỹ năng về ngôn ngữ, chính xác hóa các biểu tượng, các khái niệm đơn giản vì nhiệm vụ chơi chính là nhiệm vụ nhận thức dưới hình thức chơi. Chính nhiệm vụ này, đặt ra yêu cầu trẻ phải phân tích tổng hợp, so sánh, phân loại và khái quát. Tính hấp dẫn của các hành động chơi trong trò chơi đã giúp trẻ tích cực tìm hình dạng, từ đó hình thành một loạt các sản phẩm trí tuệ cần thiết cho việc tiếp thu kiến thức mới như nhanh trí, linh hoạt, óc quan sát…

Trò chơi không chỉ tác động đến việc phát triển trí tuệ mà còn giáo dục một phẩm chất đạo đức cho trẻ như tính thật thà, tính tổ chức, tính tự lập…cách giao tiếp với nhau, cách đánh giá và tự đánh giá  kết quả đạt được.

Ở một mức độ nào đó, trò chơi học tập vừa là phương tiện dạy học, vừa là hình thức tổ chức dạy học cho trẻ. Với cấu trúc bền vững (nhiệm vụ nhận thức, hành động chơi, luật chơi) trò chơi học tập được sử dụng trong quá trình dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của trẻ.

Tóm lại: trò chơi học tập có ảnh hưởng giáo dục sâu sắc tới trẻ mẫu giáo.Bà E.I Chikhiepva đã viết: “Cũng không nên đánh giá trò chơi học tập chỉ về mặt mục đích học tập hiển nhiên của nó, tức là sự định hướng của trẻ trong các biểu tượng này hoặc biểu tượng khác…Những trò chơi này đẩy mạnh sự phát triển tất cả mọi mặt của cá nhân trẻ. Trò chơi đã tổ chức trẻ lại với nhau, nâng cao tính tự lập của trẻ. Nếu cô giáo tiến hành loại trò chơi này một cách khéo léo và sinh động thì trẻ sẽ rất thích thú và tràn ngập niềm vui, như thế sẽ tăng thêm ý nghĩa của trò chơi học tập”.

Yêu cầu đối với mỗi trò chơi học tập:
  • Trò chơi phải gây được hứng thú của trẻ để phát huy tính tích cực tư duy của mỗi trẻ
  • Trò chơi phải phù hợp với khả năng nhận thức nói chung và tư duy nói riêng của từng trẻ và cả lớp, với những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mà trẻ đã có.
  • Nội dung chơi, hành động chơi, luật chơi phải được phức tạp hoá dần hoạt động tư duy cho trẻ.
  • Phải lựa chọn trò chơi học tập phù hợp với hình thức thực hiện (trên tiết học hay ngoài giờ học)
  • Chuẩn bị đầy đủ các loại đồ chơi học tập phục vụ cho trò chơi
  • Có hướng dẫn phù hợp khi trẻ đang chơi sao cho không làm phiền đến trẻ
* Hệ thống trò chơi học tập

Trò chơi 1: “ Những người thợ giỏi”

+ Mục đích: Rèn cho trẻ khả năng phân tích- tổng hợp hình dạng của đối tượng
+ Chuẩn bị:
  • Các hình hình học, trong đó có các hình như hình tròn, hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác, hình thang với số lượng đủ cho trẻ ghép hình
  • Hai bức tranh ngôi nhà, hai bức tranh ô tô tải
  • Hai bảng dính
+ Luật chơi:

Mỗi trẻ chỉ được dán một bộ phận của ngôi nhà hay ô tô, khi nào trẻ đứng trước chạy về hàng đập vào tay bạn đứng sau thì bạn đứng sau mới chạy lên dán tiếp..Cứ như vậy cho đến hết hình.

+ Cách chơi:

Cô giải thích luật chơi và chơi mẫu cho trẻ. Khi trẻ đã hiểu cách chơi cô chia trẻ thành hai đội và cho trẻ chơi trong thời gian một bản nhạc.

Mỗi lần chơi, cô cho trẻ dán một bức tranh. Khi hết nhạc đội nào dán xong trước là đội thắng

Trò chơi 2: “Ở đâu có hình này”

Mục đích: phát triển khả năng so sánh- đối chiếu hình dạng giữa hai đối tượng hoặc hai nhóm đối tượng để nhận biết sự giống nhau và khác nhau về hình dãng giữa chúng.

Chuẩn bị:

Các hình, các đồ vật có dạng hình vuông, hình tròn, hình tam giác, hình chữ nhật có màu sắc hấp dẫn sắp xếp xung quanh lớp ở nhiều vị trí khác nhau: treo trên tường, giá đồ chơi, cửa sổ…

Luật chơi:

Kể những hình, những đồ vật có dạng đúng hình cô yêu cầu.

Cách chơi:

Cô đưa ra các hình và hỏi trẻ đó là những hình gì? Sau đó với mỗi hình, cô yêu cầu tre tìm xem xung quanh lớp có hình đó không; rồi tìm đồ vật nào giống hình đó. Gới ý trẻ quan sát những vị trí cần thiết. Khuyến khích trẻ thi xem ai tìm nhanh.

Trò chơi 3: “Chiếc túi kỳ lạ”

Mục đích: phát triển khả năng phân loại các vật theo hình dạng hoặc các dấu hiệu khác nhau của chúng

Chuẩn bị:

Túi hoặc hộp kín, trong để các hình: hình vuông, hình chữ nhật, hình tam giác, hình elip (ô van), hình tứ giác…các hình phải có bề dày, khối hình chữ nhật, khối vuông….Số túi hoặc số hộp bằng số trẻ lên chơi.

Luật chơi:

Trẻ không được nhìn, chỉ dùng tay tìm đúng theo yêu cầu của cô và hiệu lệnh của cô

Cách chơi:

Cô giải thích luật chơi và chơi cho trẻ xem. Sau đó cô gọi một trẻ xung phong lên chơi, khi cả lớp đã hiểu được cách chơi cô cho ba trẻ lên chơi cùng để thi xem ai nhanh hơn. Đầu tiên trẻ thi xem ai lấy nhanh được hình theo yêu cầu, sau đó nhóm khác lên thi xem ai lấy nhanh được hết một loại hình đó ra khỏi túi.

Khi kiểm tra kết quả, cô có thể lần lượt giơ từng hình lên cho cả lớp cùng kiểm tra xem có đúng là trong túi không còn lại hình nào đó không?

2.2.3. Sử dụng phiếu học tập trong quá trình dạy học

Phiếu học tập được xuất hiện từ năm 1985, đáp ứng yêu cầu của đổi mới hình thức và phương pháp dạy học ở mầm non. Với nội dung mang tính tích hợp, hình thức đa dạng phiếu học tập có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình dạy trẻ mầm non:
  • Đây là một trong những công cụ cho phép cá thể hóa hoạt động học tập của trẻ, phát triển tính tích cực, độc lập, sáng tạo ở mỗi cá nhân trẻ.
  • Phiếu học tập giúp tiết kiệm thời gian trong việc tổ chức các hoạt động học tập cho trẻ
  • Phiếu học tập là công cụ hữu hiệu trong việc thu thập và xử lý các thông tin ngược
  • Phiếu học tập cung cấp những tình huống dẫn đến những kiến thức và kỹ năng cơ bản, đó chính là những bài tập thực hành được sắp xếp theo một trình tự nhất định.
Ở trẻ 5-6 tuổi, phiếu học tập thường được sử dụng ở những dạng sau:

- Phiếu học: là loại phiếu chứa đựng thông tin và giải thích sự cần thiết để trẻ có thể tự tìm hiểu và tự vận dụng các thông tin đó. Phiếu học thường được dùng trong các tiết dạy học bài mới.

Ví dụ: Ô tô được xếp bởi những hình nào? Bé hãy ghi lại những hình đó vào ô vuông
 

- Phiếu thực hành: bao gồm những câu hỏi và bài tập củng cố kiến thức và kỹ năng của môn học

Ngoài những bài tập trực tiếp củng cố các kiến thức, kỹ năng, trong phiếu thực hành có thể có các bài tập giải quyết các vấn đề của đời sống, các trò chơi và đố vui.

Ví dụ:

Có tất cả bao nhiêu hình?
+ Tô màu đỏ các hình tròn
+ Tô màu xanh các hình vuông
+ Tô màu vàng các hình tam giác.
- Phiếu kiểm tra: là loại phiếu có những câu hỏi và bài tập để kiểm tra xem trẻ nắm kiến thức, kỹ năng của bài học đến mức nào. Trên cơ sở đó giáo viên điều chỉnh quá trình dạy học tiếp theo cho phù hợp.

Khác với phiếu thực hành, những câu hỏi và bài tập trong phiếu kiểm tra mang tính tổng hợp hơn để đánh giá trình độ học tập một số nội dung cụ thể của môn học qua một giai đoạn nhất định.

Ví dụ: Đoàn tàu hỏa được xếp bởi những hình nào trong những hình sau (bé hãy đánh dấu x vào hình đó).
 
Bé hãy vẽ hoàn thành đoàn tàu hỏa:
 

* Hệ thống phiếu học tập:

- Phiếu 1:

+ Trang trí và đếm hình.
+ Từ những hình hình học cho trước hãy xếp dán ngôi nhà của bé.
 
- Phiếu 2: Bé hãy nối những hình có hình dạng giống nhau.



- Phiếu 3:
+ Tô màu đỏ các hình vuông to, hình chữ nhật to
+ Tô màu vàng các hình có bốn cạnh bằng nhau
+ Tô màu các hình có đường bao quanh là đường cong tròn khép kín
+ Tô màu các hình có ba cạnh và ba góc.

2.2.4. Xây dựng môi trường học tập

Xây dựng môi trường hoạt động mang tính phát triển nhằm mục đích tạo ra môi trường cho trẻ hoạt động thoải mái, hấp dẫn trẻ. Từ đó kích thích hứng thú hoạt động của trẻ và khả năng tìm tòi sáng tạo của trẻ.

Môi trường hoạt động cho trẻ phải an toàn, vệ sinh và hấp dẫn trẻ tạo cho trẻ ý muốn hoạt động tiếp và khám phá môi trường xung quanh.

Môi trường học tập bao gồm: môi trường vật chất và môi trường xã hội. Môi trường này tạo điều kiện cho trẻ được hoạt động nhận thức về biểu tượng toán học nói chung và biểu tượng hình dạng nói riêng với nhiều hình thức khác nhau tại thời điểm hoạt động khác nhau trong ngày ở trường mầm non.

- Môi trường vật chất: bao gồm các đồ dùng, đồ chơi và sự sắp xếp chúng cho phù hợp. Đồ dùng, đồ chơi của trẻ phải được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau. Ví dụ: những khối vuông, khối chữ nhật với màu sắc. kích thước khác nhau không chỉ để dùng nhận biết, phân biệt hình dạng của hai khối tiết học toán mà còn được sử dụng để làm vật liệu xây dựng trong hoạt động góc
Những đồ dùng đồ chơi phải được sắp xếp phù hợp với từng góc chơi và phải tạo ra cơ hội cho trẻ được giao tiếp, hợp tác với nhau trong quá trình hoạt động. Mặt khác, đồ dùng, đồ chơi tránh sự hướng dẫn nhiều lần sẽ làm giảm hứng thú chơi của trẻ. Ngoài đồ dùng, đồ chơi, không gian hoạt động của trẻ rất quan trọng. Không gian hoạt động phải rộng rãi đủ để trẻ di chuyển, diện tích hoạt động phải đủ mỗi hoạt động một góc và các góc phải có ranh giới rõ ràng để tránh sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa các góc.

- Môi trường xã hội: chính là mối quan hệ giữa giáo viên và trẻ, giữa trẻ với trẻ. Trước hết, giáo viên phải xác định rõ vai trò của mình trong hoạt động của trẻ. Giáo viên cần tác động hay không, ở mức độ nào và khi nào cón tùy thuộc vào yêu cầu từng bài và mức độ nhận thức của trẻ về hình dạng vật thể. Ví dụ: Với yêu cầu lựa chọn khối vuông và khối cầu thì trên cơ sở đã biết về khối vuông  và khối cầu từ lớp dưới trẻ có thể chọn được khối vuông và khối cầu mà không cần có sự hướng dẫn nhiều của giáo viên, trẻ có thể độc lập lựa chọn hình. Nếu vẫn với khối vuông và khối cầu, nhưng yêu cầu trẻ chọn khối lăn được hay không lăn được thì đòi hỏi trẻ phải phân tích, tổng hợp, tư duy nhiều hơn. Lúc này, giáo viên cần có sự hướng dẫn, gới ý nhiếu hơn để kích thích tính tích cực tư duy của trẻ. Khi đó, giáo viên là người hợp tác, gợi ý, chỉ dẫn cho trẻ khi cần thiết chứ không tham gia vào tất cả các hoạt động của trẻ. Còn trẻ là chủ thể tích cực tư duy trong hoạt động của mình.

Giáo viên phải tạo mối quan hệ hợp tác, cởi mở giữa cô và trẻ. Đó là mối quan hệ đáp ứng được nhu cầu giao tiếp giữa cô và trẻ, giữa trẻ với trẻ. Giọng nói ấm áp và đầy thiện cảm cũa giáo viên là động lực giúp trẻ chủ động, tự tin, mạnh dạn trong tư duy của mình. Giáo viên tạo bầu không khí vui vẻ, thoải mái sẽ giúp trẻ phát huy được tính sáng tạo trong tư duy. Đế làm được điều đó, giáo viên phải xây dựng môi trường học tập mang tính phát triển, tôn trọng sự lựa chọn của trẻ và tạo cơ hội cho tất cả trẻ đều được tham gia;giáo viên phải quan tâm tới khả năng tư duy của mỗi trẻ để có tác động kịp thời.

2.2.5. Sử dụng tình huống có vấn đề

Tăng cường sử dụng tình huống có vấn đề trong quá trình hình thành một số thao tác tư duy cho trẻ 5-6 tuổi qua hoạt động làm quen với hình dạng vật thể nhằm tăng sự hấp dẫn của hoạt động nhận thức, đặt trẻ vào tình huống mà buộc trẻ phài tư duy, tìm kiếm, sáng tạo trong tìm cách giải quyết nhiệm vụ được giao; trẻ biết vận dụng những cái đã biết vào tình huống mới.

Khi sử dụng các tình huống có vấn đề cần chú ý:

- Giáo viên phải là người chủ động tạo ra các tình huống có vấn đề để  đặt trẻ vào các tình huống đó, lôi cuốn trẻ vào các tình huống đó. Giáo viên là thang đỡ cho trẻ trong quá trình tìm kiếm cách giải quyết vấn đề đặt ra, giáo viên gợi ý cho trẻ bằng các câu hỏi đính hướng…tác động vào “vùng phát triển gần” của trẻ, giúp trẻ tìm ra cách giải quyết nhiệm vụ được giao.

- Các tình huống có vấn đề phải hấp dẫn, lôi cuốn, kích thích trẻ tìm tòi, khám phá thế giới.

- Các tình huống có vấn đề phải phù hợp với đặc điểm nhận thức của trẻ.

Đưa trẻ vào các tình huống có vấn đề là giao cho trẻ các nhiệm vụ nhận thức, giúp trẻ tự mình tìm ra phương thức giải quyết các nhiệm vụ đó và kết quả là tìm ra tri thức mới.

Giáo viên luôn đưa ra các tình huống mới trong quá trình trẻ hoạt động, điều này đòi hỏi trẻ phải huy động vốn kiến thức, kỹ năng đã có; trên cơ sở đó tìm ra cách giải quyết tình huống cho hợp lý. Chính sự mới mẻ của những tình huống làm tăng thêm sự hấp dẫn của nhiệm vụ tìm tòi, sáng tạo, tích cực tư duy trong hoạt động. Các tình huống có vấn đề được thể hiện ở các mức độ sau:
 
  • Mức độ 1: Giáo viên đặt ra vấn đề và nêu cách giải quyết vấn đề, trẻ thực hiện theo chỉ dẫn của giáo viên. Giáo viên là người đánh giá kết quả giái quyết vấn đề của trẻ.
  • Mức độ 2: Giáo viên tạo ra tình huống có vấn đề và gợi ý cách giải quyết vấn đề. Trẻ giải quyết các vấn đề có sự giúp đỡ của giáo viên khi cần. Sau đó cô và trẻ cùng đánh giá kết quả hoạt động
  • Mức độ 3: Giáo viên cung cấp những thông tin tạo thành tình huống có vấn đề. Trẻ là người phát hiện ra vấn đề và tự đưa ra cách giải quyết.
  • Mức độ 4: Trẻ tự phát hiện và tự đưa ra cách giải quyết, tự thực hiện, tự đánh giá..Giáo viên chỉ giúp đỡ trẻ khi cẩn thiết.
Đưa trẻ vào tình huống có vấn đề bao gồm ba bước sau:
  • Bước 1: Đặt vấn đề
+ Tạo ra tình huống có vấn đề trong hoạt động làm quen với hình dạng vật thể hoặc tạo ra ngay khi lập kế hoạch tổ chức hoạt động làm quen với hình dạng.

+ Phát hiện và nhận thức vấn đề cần giải quyết. Tùy thuộc vào nội dung từng hoạt động và đặc điểm nhận thức của trẻ mà giáo viên là người đưa vấn đề hay gợi ý đề trẻ đưa ra vấn đề.
  • Bước 2: Giải quyết vấn đề
+ Đề xuất cách giải quyết vấn đề
+ Lập cách giải quyế vấn đề
+Thực hiện kế hoạch giải quyết vấn đề
- Bước 3: Đánh giá kết quả giải quyết vấn đề.

III. KẾT LUẬN
Vậy có thể nói rằng, các biện pháp trên có mối quan hệ mật thiết với nhau, có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau và cùng có mục đích chung là  hình thành các thao tác tư duy cho trẻ MG 5-6 tuổi thông qua giờ học dạy trẻ làm quen với hình dạng, Vì vậy, giáo viên cần chú ý tới việc áp dụng và kết hợp các biện pháp ấy một cách đồng bộ, khoa học, hợp lý và có sáng tạo. Đó là điều kiện để phát huy tính tích cực nhận thức, hình thành và phát triển các thao tác tư duy của trẻ mầm non nói chung và trẻ MG 5-6 tuổi nói riêng.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] NGUYỄN ÁNH TUYẾT (2002), Tâm lí học trẻ em lứa tuổi mầm non. NXB ĐHSP.
[2] ĐỖ THỊ MINH LIÊN ( 2003), Phương pháp hình thành biểu tượng toán học sơ đẳng cho trẻ MN. NXB ĐHSP Hà Nội.
[3] NGUYỄN DUY THUẬN - TRỊNH MINH LOAN (1998), Toán và PP cho trẻ làm quen với biểu tượng sơ đẳng về toán, NXB Giáo dục.
[4]  TRẦN THỊ TRỌNG - PHẠM THỊ SỬU (2004), Truyện tập trò chơi, bài hát, thơ tuyện mẫu giáo 5-6 tuổi. NXB Giáo dục.
[5] TRẦN THỊ NGỌC TRÂM (2003), Trò chơi phát triển tư duy cho trẻ. NXB Giáo dục.
[6] SỞ GD & ĐT Hà Nội ( 2006), Giáo trình toán và PP hướng dẫn trẻ MN hình thành các biểu tượng sơ đẳng về toán. NXB Hà Nội.
[7] Hiền lương, 365 trò chơi giáo dục, Tập 2- Dành cho lứa tuổi mẫu giáo. NXB trẻ - 2002.
 
dtp

ThS. NGUYỄN THỊ BẢY
                                                     Khoa Tiểu học, Trường CĐSP Kiên Giang

Nguồn tin: Vụ GDMN - Bộ GD&ĐT:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Giới thiệu về website

SPMAMNON.EDU.VN là trang web hỗ trợ cán bộ quản lý, giáo viên, sinh viên chuyên ngành giáo dục mầm non và cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ ở các cơ sở giáo dục mầm non và gia đình

Thống kê lượt truy cập
  • Đang truy cập22
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm21
  • Hôm nay866
  • Tháng hiện tại314,655
  • Tổng lượt truy cập9,539,180
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây