Sự khác biệt giáo dục thẩm mỹ trong giáo dục mầm non của Việt Nam và các nước Châu Âu

Chủ nhật - 16/09/2018 10:54
Giáo dục thẩm mỹ (GDTM) trong trường mầm non của Việt Nam và các nước Châu âu (lấy ví dụ GDTM Đan Mạch) có sự khác biệt, điều gì dẫn đến sự khác biệt đó? Sự khác biệt thể hiện cụ thể qua cách tiếp cận, mục tiêu, nội dung, cách thức thực hiện.
Sự khác biệt giáo dục thẩm mỹ trong giáo dục mầm non của Việt Nam và các nước Châu Âu
Sự khác biệt về GDTM giữa Việt Namvới các nước Châu Âu cho thấy sự hạn chế và nguyên nhân của GDTM cho trẻ trong trường mầm non Việt Nam chưa đạt được kết quả như mong muốn, chưa hội nhập được với các nước.
 
ĐẶT VẤN ĐỀ

Giáo dục thẩm mỹ (GDTM) trong trường mầm non của Việt Nam và các nước Châu Âu có sự khác biệt về cách tiếp cận, quan niệm, mục tiêu, nội dung, cách thức thực hiện.

Sự khác biệt này cho thấy sự hạn chế trong GDTM cho trẻ trong trường mầm non của Việt Nam và nguyên nhân dẫn đến GDTM của Việt Nam chưa đạt được kết quả như mong muốn, chưa hội nhập được với các nước ở Châu Âu.

NỘI DUNG

1. So sánh cách tiếp cận của GDMN ở VN và Đan Mạch
 
Nhận xét:

- Việt nam: Thiên về vẻ đẹp bên ngoài, nhấn mạnh về cảm nhận về vẻ đẹp bên ngoài và thể hiện cảm xúc của bản thân trước vẻ đẹp bên ngoài, qua đây chưa thấy đề cập đến cảm xúc trái chiều.

- Châu âu: Xác định GDTM là 1 loại ngôn ngữ riêng, coi GDTM là một phương tiện giao tiếp và rèn luyện cho trẻ sử dụng được phương tiện giao tiếp cảm xúc và giao tiếp về cảm xúc: một dạng giao tiếp bậc cao. GDTM chú trọng phát triển tính bản thể của mỗi đứa trẻ - thể hiện bản thân (cái tôi) - đây chính là hướng đến sự khác biệt trong mỗi cá thể nhằm phát huy tính sáng tạo trong mỗi đứa trẻ. 

3. So sánh Mục tiêu về  GDTM của GDMN Việt Nam và các nước châu Âu
 
Nhận xét:

- Việt Nam: mục tiêu đạt được qua từng nội dung cụ thể chưa thể hiện rõ ràng. Việc sử dụng các động từ như: Khả năng cảm nhận, thể hiện cảm xúc, yêu thích, hào hứng,... đôi khi khó định lượng trong thực hiện và kiểm tra đánh giá.

- Châu Âu: Chỉ rõ mục tiêu đạt được qua từng nội dung cụ thể. Ví dụ như: Quá trình học Mỹ thuật có thể phát triển trí tưởng tượng và sáng tạo ở trẻ: Với diễn đạt như trên không chỉ chỉ ra mục tiêu của môn học mỹ thuật mà còn là định hướng cho giáo viên trong quá trình cho trẻ làm việc với hoạt động mỹ thuật.

Như vậy, vì sao có thể nói:

- Tiếp cận với nghệ thuật có thể là con đường để biểu lộ (thể hiện) để hiểu bản thân và thế giới?

- Tiếp cận với nghệ thuật phát triển sự đồng cảm và nhận dạng?

- Giáo dục thẩm mỹ phát triển các kỹ năng nghệ thuật và xã hội?

- Các phương tiện nghệ thuật cung cấp một cách thức (con đường) để xử lý và truyền giao kinh nghiệm?

- Các quá trình tiếp cận (học) với nghệ thuật có thể phát triển niềm hân hoan đối với cuộc sống?

4. So sánh Nội dung về GDTM của GDMN Việt Nam và các nước châu Âu
 

Nhận xét:

- Việt Nam: Các hoạt động cụ thể trong GDTM Việt Nam chủ yếu thông qua hai lĩnh vực âm nhạctạo hình(chưa thể hiện rõ nét ở lĩnh vực văn học), cụ thể gồm các hoạt động như : Nghe hát, vận động theo nhạc, vẽ, nặn, cắt, xé dán, xếp hình.

Câu hỏi đặt ra: Liệu những nội dung trên đã đủ hình thành mục tiêu đặt ra ban đầu?

- Châu Âu:

Đóng kịch phát triển: Ngôn ngữ  đọc và viết; Khái niệm và các kỹ năng ban đầu về chữ viết; Động cơ và sáng tạo; Đồng cảm  và kỹ năng xã hội.

Kể chuyện có thể: Tăng cường tiền đọc viết; Phát triển kỹ năng đọc hiểu; Giúp trẻ phát triển các kỹ năng kể lại - mô phỏng một cách sinh động về sự vật hiện tượng và phát triển trí sáng tạo.

Tiếp xúc với Âm nhạc giúp trẻ học qua phát triển: Ngôn ngữ; Sáng tạo; Hợp tác; Tương tác xã hội; Tự trọng; Trí nhớ; Nhận biết mẫu và trình tự.

Như vậy, có thể nhận thấy một số vấn đề sau:

- Nội dung Kể chuyện và Đóng kịch được chú trọng đầu tiên ở Châu Âu, trong khi ở Việt Nam thì chưa thật sự thể hiện rõ nét trong các nội dung GDTM.

- Ở Việt Nam, tính sáng tạo được chú trọng nhiều hơn trong âm nhạc và tạo hình.Trong khi đó tính sáng tạo của trẻ được thể hiện trong tất cả các nội dung GDTM Châu âu.

- Ở Việt Nam, các nội dung chính trong các hoạt động GDTM gồm: Cảm nhận và thể hiện cảm xúc trước vẻ đẹp, một số kỹ năng trong hoạt động âm nhạc và hoạt động tạo hình.

Trong khi đó GDTM Châu âu đề cập đến hàng loạt các nội dung như: Phát triển ngôn ngữ đọc và viết; phát triển khái niệm và các kỹ năng ban đầu về chữ viết; Phát triển tính đồng cảm và kỹ năng xã hội; Phát triển kỹ năng đọc hiểu; Giúp trẻ phát triển các kỹ năng kể lại - mô phỏng một cách sinh động về sự vật hiện tượng và phát triển trí sáng tạo; Phát triển kỹ năng hợp tác, tương tác xã hội; Tự trọng; Trí nhớ; Nhận biết mẫu và trình tự.

- Kết quả mong đợi của các lĩnh vực GDTM Châu âu: Có sự giao thoa các kết quả đạt được ở cả 3 lĩnh vực: Đóng kịch, kể chuyện sáng tạo, âm nhạc, và mỹ thuật. Ví dụ tính sáng tạo của trẻ có mặt ở tất cả các nội dung GDTM.

5. So sánh cách thể hiện trong quá trình giáo dục cho trẻ nội dung GDTM của GDMN Việt Nam và các nước châu Âu
 
Bạn hãy cho biết sự khác biệt về hai giờ học trên? Xin mượn câu hỏi và câu trả lời của chuyên gia Đan Mạch: Ông Bennyé D. Austring và Bà Merete Sorensen, trường Trường Cao đẳng tổng hợp Zealand, Denmark đã đưa ra trong bài viết của mình:

"Giáo dục mầm non Đan Mạch tập trung vào tính sáng tạo và quá trình GDTM cho trẻ mầm non điều này phù hợp GDTM trong Giáo dục mầm non của Việt Nam hiện nay không?Câu trả lời là "" bởi vì chúng ta nhìn thấy nó. Truyền thống lâu đời của Đan Mạch và Scandinavia là đặt công cuộc xây dựng nền giáo dục và học tập lên hàng đầu theo cách học tự nhiên của trẻ thông qua hoạt động chơi và xử lý nhiều tình huống với quá trình học tính sáng tạo và thẩm mỹ có thể trở thành một công cụ quan trọng cho Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương Hà Nội và người Hiệu trưởng có tầm nhìn là ông Đặng Lộc Thọ người đã nhận ra và đã nỗ lực đưa Giáo dục thẩm mỹ của Đan Mạch đến với CĐSPTW và chúng ta ngày hôm nay”.
 
6. Sự khác biệt trong Đào tạo:

Việt Nam và Đan Mạch có sự khác biệt về mặt tự nhiên, có các nền văn hóa và truyền thống giáo dục khác nhau. Mặc dù vậy, việc kết hợp các phương pháp giáo dục tốt nhất từ mỗi nước cũng đều tạo ra sự phát triển giáo dục trong tương lai.

- Ở Việt Nam: Giảng viên có vị thế cao và trình độ chuyên môn khá chuyên nghiệp trong các lĩnh vực đào tạo kỹ năng nghề cho sinh viên, đặc biệt là giảng viên giảng dạy Âm nhạc và Mỹ thuật. Cả giảng viên, sinh viên, GVMN đều tuân thủ nghiêm túc chương trình với sự nhiệt tình rất cao. Các bài giảng được chuẩn bị công phu, theo qui trình chặt chẽ. Sinh viên học tập với sự tập trung cao độ và rất có trách nhiệm.

- Ở Đan Mạch: Chương trình nhằm vào các kỹ năng chuyên nghiệp cũng như là các khía cạnh về lý thuyết có liên quan, nhấn mạnh đến kiến thức nghiệp vụ, các phương pháp và kỹ thuật liên quan đến thực hành nghiệp vụ sư phạm. Các khía cạnh chuyên nghiệp của chương trình học được bổ trợ với phần lý thuyết từ các lĩnh vực liên quan ví dụ như âm nhạc, diễn kịch, kể chuyện, khả năng đọc viết, tâm lý và sư phạm. Phát triển các kỹ năng của sinh viên về thẩm mỹ học, giao tiếp, biểu đạt và hợp tác đa văn hóa ..
Trong quá trình đào tạo, người ta dành nhiều thời gian nghiên cứu cho công trình liên ngành trong các nhóm sinh viên. Giảng viên sử dụng nhiều thời gian hỗ trợ sinh viên sở hữu quá trình học tập, đồng thời cũng là huấn luyện viên, người thầy và đối tác tranh luận. Điều này làm cho sinh viên chịu trách nhiệm nhiều hơn cho việc học tập của mình. Sinh viên học các môn học cũng thông qua phương pháp 'thử và sai' (tự học), tự sáng tác tác phẩm nghệ thuật của riêng mình, đó là một phần của phương pháp tiếp cận sáng tạo. Sinh viên được hỗ trợ làm việc theo nhóm  với các hướng dẫn và giám sát cụ thể của một nhóm các giảng viên là các chuyên gia và các nhà hoạt động liên ngành, nhưng họ cũng học hỏi lẫn nhau. Công trình dự án được hoàn thành với một kỳ thi viết báo cáo và thuyết trình thực hành theo nhóm để đảm bảo sinh viên đã nắm được các kiến thức và kỹ thuật ở mức đáp ứng yêu cầu. Hội thảo của SV tại các trường MNTH của trường CĐSPTƯ và các trường MN khác trong thời gian qua đã minh chứng cho hiệu quả công tác đào tạo này.

KẾT LUẬN

Chúng ta có thể bắt đầu tiến hành một số quá trình phát triển đối với hệ thống giáo dục Việt Nam nói chung và GDMN nói riêng. Trước hết, cần quan tâm  đến vấn đề đổi mới phương pháp giảng dạy khi coi tính sáng tạo như là mục tiêu giáo dục. Ở đây cách tư duy và giáo dục thẩm mỹ của Đan Mạch như được thực hành tại khóa học "Phương pháp tiếp cận giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non" (ALECE) và qua các hoạt động hợp tác quốc tế về giáo dục đã tạo ra nguồn cảm hứng phát triển chuyên môn trong tương lai tại Trường Cao đẳng Sư phạm Trung ương cũng như tại các cơ sở giáo dục khác ở Việt Nam.
 
Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2015). Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể. Tài liệu tập huấn, lưu hành nội bộ.
 
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2009). Chương trình giáo dục mầm non(Ban hành kèm theo Thông tư số: 17 /2009/TT-BGDĐT ngày 25 tháng 7 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo).
 
dtp

 

Nguồn tin: Vụ GDMN - Bộ GD&ĐT:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Giới thiệu về website

SPMAMNON.EDU.VN là trang web hỗ trợ cán bộ quản lý, giáo viên, sinh viên chuyên ngành giáo dục mầm non và cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ ở các cơ sở giáo dục mầm non và gia đình

Thống kê lượt truy cập
  • Đang truy cập78
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm75
  • Hôm nay3,642
  • Tháng hiện tại366,578
  • Tổng lượt truy cập11,511,179
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây