Một tuổi thơ giàu văn hóa mang lại lợi ích về kinh tế xã hội

Chủ nhật - 16/09/2018 10:33

Một tuổi thơ giàu văn hóa mang lại lợi ích về kinh tế xã hội

“Trong giờ học tiếng Đan Mạch của chúng tôi, các em đã tạo ra các bộ phim hoạt hình ngắn dạy cho các em một số kỹ năng ngữ pháp cơ bản. Các bộ phim hoạt hình này nói về một người - “chủ ngữ” - đã làm việc gì đó - “động từ” - và người này có một phẩm chất - “tính từ”. Sau đó, cả giáo viên lẫn học sinh đều có thể phát hiện ra rằng học ngữ pháp theo cách này dễ hơn nhiều. Các em thậm chí còn không nhận ra rằng các em đã học được điều gì đó. Mặc dù vậy, các em lại có thể ghi nhớ và vận dụng được ngữ pháp. Đồng thời, các em cũng đã có những giây phút vui vẻ.”
Tatiana Chemi, Giảng viên cấp cao tại Trường Đại học Aalborg, Đan Mạch
 
Nhiều năm qua, chúng ta đã biết rằng âm nhạc, kịch và nghệ thuật hình ảnh nâng cao kiến thức và năng lực của trẻ em trong âm nhạc, kịch và nghệ thuật hình ảnh, một minh chứng đầy thuyết phục cho các môn học. Mặc dù vậy, trong những năm qua, đã xuất hiện các kết quả nghiên cứu quan trọng khác, cho thấy các môn học liên quan đến nghệ thuật đều hỗ trợ việc học tập của trẻ trong các môn học khác tại trường và trong các trường hợp khác trong cuộc sống. Kiến thức đạt được này cung cấp nhiều ví dụ để dành ưu tiên lớn hơn cho các khả năng chuyên môn thẩm mỹ và các quy trình học tập tại các tổ chức và trường bán trú cũng như tại các trường đại học cao đẳng nơi các nhà sư phạm và giáo viên tương lai học tập.

Hiện nay, chúng ta cần có khả năng thích nghi với tư cách là những công dân và người lao động, cùng nhau nắm giữ một khối lượng năng lực và trình độ mà chúng ta có thể áp dụng sáng tạo trong các môn học. Sáng tạo và đổi mới là cốt lõi của các môn học như âm nhạc, kịch và nghệ thuật thị giác. Sự tham gia sâu sắc vào các quy trình sáng tạo của các môn học này không chỉ giúp mà còn củng cố năng lực của mỗi cá nhân trong việc thí nghiệm, lựa chọn và tư duy vượt giới hạn - những khả năng được cả lĩnh vực kinh doanh lẫn lĩnh vực công đánh giá cao. Tuy nhiên, nếu chúng ta có ý định tối ưu hóa những khả năng này, chúng ta phải đầu tư nhiều hơn vào việc học tập toàn diện của trẻ em.

James J. Heckman, giáo sư tại Trường Đại học Chicago và người được trao giải thường No-ben về Kinh tế, đã đưa ra kết luận dựa trên nghiên cứu mở rộng về vốn nhân lực rằng, trên phương diện tài chính, các khoản đầu tư vào trẻ em là khoản đầu tư có lãi nhất trong tất cả các khoản đầu tư và việc đầu tư này được thực hiện càng sớm thì lợi ích xã hội và kinh tế đối với xã hội tương lai sẽ càng lớn. Kết luận này cũng áp dụng cho các khoản đầu tư vào học tập.
 

 
Trong phạm vi “tư duy đầu tư” này, giáo sư James S. Catterall đến từ Trường Đại học California đã quan sát 12.000 học sinh trong thời gian 12 năm. Một số học sinh trong số này đã tiếp thu “nghệ thuật phong phú” trong khi những học sinh khác lại kém may mắn hơn khi tiếp nhận “nghệ thuật nghèo nàn”. Năm 2009, ông đã kết luận rằng những học sinh được đào tạo tốt và toàn diện về âm nhạc, kịch, khiêu vũ và nghệ thuật hình ảnh đạt kết quả tốt hơn những học sinh khác về mặt học thuật, xã hội và kinh tế. Các học sinh này tham gia tích cực hơn vào công tác xã hội tự nguyện, các em hoàn thành các cấp học cao hơn, có công việc tốt hơn và có nhiều bạn hơn bên cạnh việc các em có vô số trải nghiệm nghệ thuật chủ động và thụ động khác nhau. Đồng thời, tuy nhiên nhìn từ khía cạnh nghiên cứu tính sáng tạo hiện nay, giáo sư LeneTang­gaard, đến từ Trường Đại học Aalborg, chỉ ra rằng “…có thể xảy ra một số mối quan hệ giữa việc sáng tạo từ góc nhìn trẻ thơ và việc sáng tạo từ góc nhìn người lớn. Do đó, các em đạt điểm cao trong bài kiểm tra sáng tạo hầu hết đều trở thành những người lớn dám nghĩ khác, sử dụng trí tưởng tượng của các em và đón nhận các cơ hội.” Nghiên cứu này liên quan đến học sinh mẫu giáo và dựa trên nghiên cứu quốc tế mới.

Với sự hỗ trợ của Heckman, Catterall và Tang­gaard, hiện nay, chúng ta đã có một cơ sở vững chắc để nghĩ rằng việc khuyến khích khiếu thẩm mỹ của trẻ có tầm quan trọng đặc biệt về mặt cá nhân, học thuật, xã hội và kinh tế xã hội.

Khảo sát sâu rộng nhất về chất lượng và ảnh hưởng của giáo dục trong các môn học thẩm mỹ do giáo sư Anne Bamford, đến từ Trường Đại học Nghệ thuật Luân Đôn thực hiện. Năm 2006, bà đã chỉ ra rằng giáo dục trong các môn học thực hành/âm nhạc phải tốt, nếu không sẽ lợi bất cập hại. Nền giáo dục này cũng phải có một khối lượng và tần suất nhất định nhằm tạo hiệu quả mong muốn. Trong trường hợp này, bà đề nghị học 5 giờ/tuần trong tất cả các năm học. Một cuộc khảo sát của UNESCO ở hơn 60 nước đã kết luận rằng hệ thống giáo dục tốt trong các môn học nghệ thuật tăng cường khả năng ngôn ngữ của học sinh so với các yếu tố khác, và trẻ em ở các nước nơi các trường học có nhiều môn học nghệ thuật trong chương trình học đạt kết quả tốt nhất trong môn toán, đọc và tự nhiên xã hội, nghĩa là các môn học là đối tượng của các cuộc khảo sát kiểm tra PISA uy tín.

Ở đây, chúng ta đã bắt gặp một hiện tượng thường được gọi là hiệu ứng chuyển tiếp, nghĩa là hiệu ứng tích cực mà việc học tập trong phạm vi môn học này có thể tạo ra đối với việc học tập trong phạm vi một môn học khác. Một ví dụ: Khi hát, nhảy hoặc chơi một nhạc cụ, trẻ không chỉ học cách hát, nhảy và chơi một nhạc cụ mà còn học được môn toán vì trẻ đang rèn luyện thể chất và cảm xúc khi hiểu được thời đoạn và khoảng cách giữa các nốt nhạc, cũng giống như phân số.

Như đã đề cập ở phần trên, âm nhạc có thể khuyến khích học tập, chẳng hạn như môn toán. Các nhà nghiên cứu về trí nhớ là Iroise Dumontheil và TerkelKlingberg đến từ Học viện Karolinska tại Stockholm, Thụy Điển, trong một cuộc khảo sát thu thập dữ liệu từ 250 học sinh, đã chứng minh rằng, dựa vào kết quả đánh giá trí nhớ ngắn hạn của trẻ, có thể dự đoán năng lực của trẻ trong các giờ học toán hai năm sau đó. Trí nhớ ngắn hạn là một phần của bộ não có chức năng thu thập dữ liệu cho trí nhớ dài hạn. Tích cực làm việc với âm nhạc tăng cường khả năng của trí nhớ ngắn hạn. Trí nhớ ngắn hạn càng tốt, kết quả học tập càng cao.

Nhà nghiên cứu não bộ Đan Mạch Kjeld Fredens ủng hộ cuộc khảo sát này và bổ sung khía cạnh khác vào cuộc khảo sát này khi ông cho rằng việc đào tạo trí nhớ ngắn hạn của một người là một cách hiệu quả để bảo đảm rằng sẽ có thêm nhiều trẻ em tham gia vào các giờ học tại trường công. Ông mô tả âm nhạc là “môn thể thao cho não bộ” và cho rằng có thể không có gì sai đối với nhiều trẻ được chẩn đoán mắc ADHD trừ khi chúng không có trí nhớ ngắn hạn được đào tạo.

Về mặt tự nhiên, khiêu vũ phát triển các kỹ năng giao tiếp cơ thể nhưng cũng yêu cầu phải học hình học, khả năng tường thuật và sự hình thành dân chủ. Đây là kết luận của tiến sĩ Jens-Ole Jensen, VIAUC dựa trên một dự án nghiên cứu hoạt động 3 năm tại Aarhus với trọng tâm là bộ môn khiêu vũ tại trường học. Khiêu vũ không phải là một bộ môn độc lập nhưng nó thường được đưa vào PE tại trường và được xem là một hoạt động tại các tổ chức bán trú.

Theo Daniel Birnbaum, hiệu trưởng trường Städelschule tại Frankfurt, Đức, nghệ thuật thị giác là một “ngôn ngữ” quốc tế, hình thức truyền thông tốt nhất trong một thế giới toàn cầu hóa. Bà Ingelise Flensborg, Trường Đại học Aarhus, Đan Mạch cho rằng việc hiểu biết, làm chủ các hình thức trình diễn thị giác giúp tăng cường trí thông minh không gian và chuẩn bị cho cá nhân cách xử lý các tình huống mới lạ và bất ngờ. Đồng nghiệp của bà, Helene Illeris, nhấn mạnh vào tiềm năng khoa học xã hội có thể thay đổi cách giáo dục nghệ thuật giác. Ở cấp độ mô phạm, nghệ thuật đương đại “tiếp cận cách học về mối quan hệ giữa nghệ thuật và thực tế, và dù nghệ thuật có thể được sử dụng để đặt vấn đề cho thực tế thông qua hàng loạt hành động và ý tưởng thay thế.”
 

Hiện nay, kịch chỉ được coi là một môn học tự chọn nhưng lại phổ biến ở trường công mới. Một cuộc khảo sát quy mô lớn kéo dài 2 năm của Liên minh Châu Âu, DICE; được thực hiện năm 2008 tại 11 quốc gia có 4.475 trẻ em và thanh niên tham gia, kết luận rằng thông qua các tác phẩm kịch và sân khấu, trẻ em và thanh niên có thể phát triển các năng lực được gọi là Lisbon, bao gồm các khả năng tự thể hiện bản thân bằng tiếng tiếng mẹ đẻ, học cách học, tìm hiểu kiến thức về xã hội, sự tham gia cũng như hiểu biết về văn hóa và tinh thần doanh nhân. Kết luận chính của cuộc khảo sát được dựa trên một cuộc đại khảo sát cơ sở “Ngăn chặn các khiếu nại” do hai nhà nghiên cứu đến từ Trường Đại học Harvard, Anh quốc thực hiện. Điều này tạo một cơ sở nghiên cứu rõ ràng - “một mối liên kết rõ ràng” - rằng kịch tăng cường hiểu biết của trẻ, tức là khả năng đọc, viết, hiểu, sử dụng và đánh giá văn bản.

Các sự kiện trên đây chỉ là một khía cạnh của nghiên cứu mới về mối quan hệ giữa thẩm mỹ và học tập - nghiên cứu chỉ ra một điều gì đó mà chúng ta vốn đã biết từ lâu: Các hoạt động thẩm mỹ tại các trường bán trú và các môn học liên quan đến nghệ thuật tại các trường học có một tiềm năng vô cùng lớn song mới được tận dụng một phần trong việc phát triển các công dân Đan Mạch sáng tạo và linh hoạt trong tương lai.
 
Thông tin về tác giả:

Nghiên cứu sinh tiến sĩ chuyên ngành tiếng Đan Mạch và Nghiên cứu Sân khấu. Cựu diễn viên kiêm nhà soạn kịch, hiện là nhà nghiên cứu và quản lý dự án tại Khoa Nghiên cứu và Đổi mới thuộc Trường Đại học Zealand. Chuyên gia tư vấn cho Cơ quan Văn hóa Đan Mạch, giảng viên cấp cao bộ môn kịch và chủ nhiệm Diễn đàn Sáng tạo, Thẩm mỹ và Học tập.

Các bài báo khác bằng tiếng Anh của tác giả này (* đồng tác giả Merete Sorensen):

1. Phát triển giáo dục xuyên lục địa, Hợp tác Đan mạch - Việt Nam thúc đẩy tính sáng tạo và quá trình giáo dục thẩm mỹ cho trẻ mầm non. Trường Đại học Zealand, Soro 2015, Đan Mạch*

2. Kể chuyện giúp trẻ tìm hiểu thế giới. Bản tiếng Anh của luận án được xuất bản tại Kirsten Mark (ed.)

3.“Việc sử dụng Ngôn ngữ và Hình ảnh của các nhà sư phạm”, AkademiskForlag, Copenhagen 2013, Đan Mạch

4. Quan điểm của Xcăng-đi-na-vi về Thẩm mỹ như một Phương tiện truyền thông học tập. Tạp chí Modern Education Review, New York 2012, USA*

5. Thẩm mỹ và Học tập. Simonelli Editore, Milano 2011, Ý*

6. Hướng tới Khái niệm định hướng học tập của Thẩm mỹ. Phiên bản tiếng Anh của bài báo xuất bản tại Sætre và Salvesen (ed.) trên “General Music Education”, Gyldendal Akademisk, Oslo 2010, Na Uy*
 

Tác giả Bennyé D. Austring

Trường Cao đẳng Tổng hợp Zealand, Đan Mạch.

 
dtp

 

Nguồn tin: Vụ GDMN - Bộ GD&ĐT:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Giới thiệu về website

SPMAMNON.EDU.VN là trang web hỗ trợ cán bộ quản lý, giáo viên, sinh viên chuyên ngành giáo dục mầm non và cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ ở các cơ sở giáo dục mầm non và gia đình

Thống kê lượt truy cập
  • Đang truy cập29
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm28
  • Hôm nay4,541
  • Tháng hiện tại263,372
  • Tổng lượt truy cập10,408,083
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây