MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN THẨM MĨ CỦA TRẺ 5 - 6 TUỔI

Thứ ba - 18/09/2018 21:08
Trẻ 5 - 6 tuổi vừa là chủ thể thưởng thức (người tiếp nhận, thưởng thức giá trị thẩm mĩ), vừa là chủ thể sáng tạo thẩm mĩ. Vì vậy, sự phát triển thẩm mĩ của trẻ 5 tuổi được xem xét ở hai yếu tố: ý thức thẩm mĩ và hoạt động thẩm mĩ.
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM PHÁT TRIỂN THẨM MĨ CỦA TRẺ 5 - 6 TUỔI
Tóm tắt:Giáo dục thẩm mỹ (GDTM) là một trong những nội dung quan trọng của giáo dục toàn diện con  người, đặc biệt là đối với trẻ mầm non- bước khởi đầu trong quá trình hình thành nhân cách.GDTM cho trẻ góp phần tạo ra những con người biết nhận thức, cảm thụ cái đẹp, biết yêu cái đẹp và tạo ra cái đẹp cho cuộc sống, làm cơ sở cho việc hình thành các giá trị văn hóa của bản thân trẻ sau này. Trẻ 5 - 6 tuổi vừa là chủ thể thưởng thức, đồng thời là chủ thể sáng tạo thẩm mĩ. Sự phát triển thẩm mĩ của trẻ được xem xét ở hai yếu tố cơ bản: ý thức thẩm mĩ và hoạt động thẩm mĩ. Trong các thành tố của ý thức thẩm mĩ, sự biểu hiện tập trung, nổi bật nhất và chi phối mọi hoạt động khác của trẻ đó là cảm xúc thẩm mĩ. Đối với các hoạt động thẩm mĩ của trẻ, chủ yếu đó là hoạt động nghệ thuật (tạo hình, âm nhạc, đóng kịch, truyện thơ...) và hoạt động trong chính cuộc sống sinh hoạt hằng ngày. Với tâm hồn nhạy cảm, giàu sáng tạo, trẻ luôn có nhu cầu tìm tòi, khám phá cái đẹp, mong muốn tạo ra cái đẹp ở xung quanh. Đây chính là đặc điểm quan trọng mà nhà giáo dục, người lớn có thể sử dụng như là một trong những phương tiện để GDTM cho trẻ mầm non.
 
ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo quan điểm của các nhà Mỹ học, thẩm mĩ là một phạm trù rộng bao gồm các thành phần: chủ thể thẩm mĩ, đối tượng và khách thể thẩm mĩ. Con người là chủ thể thẩm mĩ có khả năng hưởng thụ, sáng tạo và đánh giá thẩm mĩ. Những phương diện thể hiện chủ thể thẩm mĩ bao gồm: ý thức thẩm mĩ và hoạt động thẩm mĩ.

Sự phát triển thẩm mĩ là quá trình chủ thể thẩm mĩ hình thành ý thức thẩm mĩ (xúc cảm thẩm mĩ, quan điểm thẩm mĩ, thị hiếu thẩm mĩ, lí tưởng thẩm mĩ), nhu cầu và năng lực hoạt động thẩm mĩ, khả năng đánh giá và sáng tạo cái đẹp trong đời sống tự nhiên, trong đời sống xã hội và trong nghệ thuật. Trong quá trình đó, mỗi cá nhân chuyển hóa văn hóa thẩm mĩ nói chung của nhân loại thành văn hóa thẩm mĩ của bản thân.

Trẻ 5 - 6 tuổi vừa là chủ thể thưởng thức (người tiếp nhận, thưởng thức giá trị thẩm mĩ), vừa là chủ thể sáng tạo thẩm mĩ. Vì vậy, sự phát triển thẩm mĩ của trẻ 5 tuổi được xem xét ở hai yếu tố: ý thức thẩm mĩ và hoạt động thẩm mĩ.

NỘI DUNG

1. Ý thức thẩm mĩ

1.1. Ý thức thẩm mĩ của trẻ

Ý thức thẩm mĩ của trẻ gồm các thành tố như: cảm xúc thẩm mĩ, thị hiếu thẩm mĩ, quan điểm thẩm mĩ, lý tưởng thẩm mĩ. Ý thức thẩm mĩ của trẻ được biểu hiện nổi bật ở thành tố cảm xúc thẩm mĩ, các thành tố như thị hiếu thẩm mĩ, quan điểm thẩm mĩ, lý tưởng thẩm mĩ mới ở bước đầu hình thành trên cơ sở phát triển của cảm xúc thẩm mĩ.

Các công trình nghiên cứu khoa học đã khẳng định từ 0 đến 6 tuổi được coi là giai đoạn khởi đầu – giai đoạn vàng, đóng vai trò nền tảng vô cùng quan trọng đối với việc hình thành phẩm chất nhân cách con người. Có thể coi đây là thời kì phát cảm về mặt “xúc cảm thẩm mĩ”, đặc biệt là những xúc cảm tích cực. Những xúc cảm tích cực, dễ chịu được nảy sinh khi trẻ tiếp xúc trực tiếp với cái đẹp - tạo nên  trạng thái tinh thần khoan khoái khiến trẻ cảm thấy gắn bó thiết tha với con người và cảnh vật xung quanh, làm nảy nở ở trẻ lòng mong muốn làm những điều tốt lành để đem niềm vui đến cho mọi người. Khi trẻ tiếp xúc trực tiếp với sự vật hiện tượng phong phú, đa dạng trong thiên nhiên, trong đời sống, trong nghệ thuật, trẻ rất nhạy cảm và thể hiện xúc cảm thẩm mỹ với những "cái đẹp" của sự vật, hiện tượng. Những xúc cảm đó chi phối mạnh mẽ đời sống tâm lí của trẻ.

Khi tiếp xúc trực tiếp với cái đẹp, cái xấu, cái bi, cái hài, cảm xúc của trẻ bộc lộ rất chân thật, hồn nhiên nhưng trẻ chưa biết kiềm chế được xúc cảm của mình. Trẻ bộc lộ cả hai mặt cảm xúc tiêu cực và cảm xúc tích cực. Tất cả các sắc thái xúc cảm, tình cảm (vui, buồn, hờn, giận, yêu, ghét...) phát triển mạnh và chi phối mọi hành động của trẻ. Một bông hoa tươi thắm, một cánh bướm sặc sỡ, một bức tranh đẹp, một khúc nhạc hay, một câu thơ giàu vần điệu, một câu nói dịu dàng, một nụ cười âu yếm... đều gợi lên nhưng rung động trong lòng mỗi đứa trẻ. Bằng cách tri giác hình khối, đường nét, màu sắc, âm thanh, ngôn ngữ tác động đến các giác quan, trẻ dễ dàng tiếp nhận những ấn tượng từ phía bên ngoài mang tính hình tượng và giàu màu sắc xúc cảm, dễ dàng nhận ra cái đẹp của thiên nhiên, của con người, của sự vật hiện tượng, hiểu được ý nghĩa tượng trưng và ý nghĩa biểu thị các đối tượng, dễ dàng phân biệt sự đối lập giữa các mặt, hình dung ra cuộc sống, tâm trạng, tính cách, diễn biến của các sự vật hiện, hiện tượng trong thiên nhiên, đời sống, trong nghệ thuật. Đó chính là những xúc cảm thẩm mĩ, xúc cảm về cái đẹp. Loại xúc cảm đó có ý nghĩa đặc biệt đối với trẻ vì ở giai đoạn này, trẻ nhận thức thế giới và tỏ thái với những sự vật, hiện tượng xung quanh mình thường thông qua xúc cảm thẩm mĩ(xúc cảm về cái đẹp). Vì thế, trẻ luôn có nhu cầu được tham gia các hoạt động cùng nhóm bạn bè để chúng có cơ hội được trò chuyện, bày tỏ, diễn đạt những điều quan sát được từ thế giới xung quanh và thể hiện tình cảm trong khi chơi và giao tiếp.

Mỗi tác phẩm nghệ thuật - nơi biểu hiện tập trung của cái đẹp, đối với trẻ thơ đó vừa là nội dung vừa là phương tiện giáo dục thẩm mỹ. Một bản nhạc tươi vui, một bức tranh đẹp, một khúc nhạc hay, một câu thơ giàu vần điệu, một câu truyện cổ tích lung linh những tình tiết thần thoại có thể làm cho trẻ ngỡ ngàng, vui sướng, gợi lên trong lòng trẻ những rung động, những xúc cảm về cái đẹp. Điều đó tạo nên trạng thái tinh thần khoan khoái khiến trẻ cảm thấy yêu quý, gắn bó với con người và cảnh vật xunh quanh, làm nảy nở ở trẻ lòng ham muốn đem niềm vui đến cho mọi người. Không chỉ trong nghệ thuật, mà ngay trong chính cuộc sống thường ngày, một bông hoa tươi thắm, một cánh bướm sặc sỡ, một câu nói dịu dàng, một nụ cười âu yếm... đều dễ dàng khơi dậy trong tâm hồn trẻ thơ những xúc cảm thẩm mỹ. Sự trải nghiệm, tích lũy mỗi ngày đó dần hình thành ở trẻ thị hiếu thẩm mĩ, lý tưởng thẩm mĩ, tình cảm thẩm mĩ và kết tinh lại thành phẩm chất đạo đức, nhân cách cao đẹp của con người, làm cho trẻ trở thành người luôn biết yêu cái đẹp và tạo ra cái đẹp cho cuộc sống. Đặc biệt, giáo dục thẩm mĩ thông qua các hoạt động nghệ thuật phù hợp với lứa tuổi, trẻ được tạo cơ hội thể hiện bản thân, đồng thời khuyến khích sự phát triển khả năng nghệ thuật, phát huy trí tưởng tượng sáng tạo.

Một đặc điểm quan trọng trong sự phát triển thẩm mĩ của trẻ là sự phát triển tình cảm thẩm mĩ khá rõ nét và ổn định hơn các độ tuổi trước. Với vẻ đẹp của thiên nhiên, trẻ thể hiện niềm vui, sự ham thích được khám phá, tìm hiểu. Với những con người xung quanh, trẻ không chỉ thể hiện bày tỏ tình cảm phù hợp với trạng thái cảm xúc của bản thân mà còn phù hợp với trạng thái cảm xúc của người khác trong các tình huống giao tiếp bằng cử chỉ, giọng nói, nét mặt. Với các tác phẩm nghệ thuật, trẻ thể hiện tình cảm như thích nghe, thích xem, mong muốn được nghe, được xem đồng thời còn có những vận động hòa theo và thể hiện rõ ràng tình cảm yêu, ghét, say mê.

1.2. Điểm đặc biệt trong sự phát triển ý thức thẩm mĩ của trẻ 5 - 6 tuổi
 
       Điểm đặc biệt trong sự phát triển ý thức thẩm mĩ của trẻ 5 - 6 tuổilà sự hình thành tri giác thẩm mĩ các tác phẩm nghệ thuật. L.X.Vưgôtxki nhà tâm lý học Nga coi sự tri giác thẩm mĩ của trẻ là sự xuất hiện các hình tượng nghệ thuật. Việc tri giác thẩm mĩ các tác phẩm nghệ thuật của trẻ có những đặc điểm riêng, nó có mối liên quan chặt chẽ với xúc cảm và tình cảmthẩm mĩ bởi nó cũng dựa trên cơ sở là tiếp xúc trực tiếp với các tác phẩm nghệ thuật. K.D.Usinxky đã khẳng định: "Trẻ em tư duy bằng hình tượng, âm thanh, màu sắc". Trẻ có thể hiểu được nội dung và tư tưởng của những bài hát, câu chuyện, bài thơ dài, hình ảnh trừu tượng cho dù trẻ chưa thể hiểu hết tất cả từ ngữ đã nghe. Trẻ cũng có thể phân biệt được hình ảnh nghệ thuật và hiện thực, chỉ và nhận xét được các phương tiện biểu đạt hình tượng, ngôn ngữ, các thủ pháp nghệ thuật. Trẻ cũng có thể nắm bắt được cấu trúc thể loại, mối quan hệ giữa hiện thực trong tác phẩm với hiện thực ngoài cuộc sống.

Với đặc trưng tâm lí lứa tuổi riêng biệt, trẻ 5 - 6 tuổi dễ dàng hòa đồng vào các sự kiện, hòa mình với nhân vật, hòa mình vào trong các hình tượng trong các tác phẩm nghệ thuật, đồng nhất, biến mình trong đó. Từ góc nhìn của trẻ, cuộc sống luôn hiện ra những điều mới điều mới mẻ, ngay cả những gì bình thường nhất đang diễn ra hằng ngày đối với trẻ cũng đầy sự mới lạ, hấp dẫn. Tuy nhiên, mọi sự vật, hiện tượng, mọi suy nghĩ, hành động nằm trong mối quan hệ với chính bản thân chủ thể. Khả năng đồng hóa này khiến trẻ có thể giao cảm với thế giới con người, tự nhiên trong tác phẩm nghệ thuật từ đó, trẻ thể hiện sự cảm nhận của mình bằng các cảm xúc tích cực: chú ý lắng nghe, ngắm nhìn, vui sướng, vỗ tay, dùng những từ gợi cảm hoặc bằng những cảm xúc tiêu cực như sợ hãi, tức giận, chê bai...

Thị hiếu thẩm mĩ của trẻ 5 - 6 tuổi mang nặng tính cá nhân và không bền vững. Tình cảm của trẻ hình thành bền vững hơn so với các lứa tuổi trướccùng với sự phát triển mạnh mẽ về các kiểu loại tư duy giúp trẻ có thể tự do và chủ động hơn trong việc lựa chọn tiếp cận với đối tượng thẩm mĩ, biết tỏ thái độ yêu ghét rõ ràng, bước đầu biết đưa ra đánh giá của bản thân về các đối tưởng thẩm mĩ bằng việc phân tích, so sánh các sự kiện, hiện tượng, thiết lập mối quan hệ của thông tin giữa xa và gần, giữa mới và cũ, giữa những dấu hiệu đơn lẻ và những dấu hiệu đặc trưng. Tuy nhiên, sở thích của trẻ 5 - 6 tuổi vẫn chịu sự chi phối mạnh mẽ của cảm xúc nên những sở thích của trẻ thường diễn ra trong thời gian ngắn và dễ dàng thay đổi. Tính cá nhân trong sự phát triển thị hiếu thẩm mĩ đặc biệt thể hiện rất rõ khi trẻ cảm thụ các tác phẩm nghệ thuật. Bằng“nhãn quan trẻ thơ”, trẻ có thể tùy ý thích hoặc không thích phẩm này hoặc tác phẩm khác tùy thuộc vào sở thích, vốn sống, vốn kinh nghiệm riêng của trẻ. Thậm trí trẻ còn có thể rung cảm theo một cách thức khác, không hoàn toàn giống với ý đồ của tác giả.  Chẳng hạn khi nắm bắt âm điệu và nhạc tính của một bài thơ hay, trẻ so sánh “thơ cứ như hát”. Hay ngắm nhìn một bức tranh đẹp trẻ trầm trồ khen ngợi “Bức tranh thật tuyệt”.

Việc hình thành “xã hội trẻ em” trong các nhóm chơi tạo điều kiện để trẻ bước đầu hình thành xu hướng cùng sở thích với những ý kiến lập luận thống nhất của cả nhóm chơi. Sở thích cá nhân và sở thích nhóm tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau là cơ sở của việc hình thành thị hiếu thẩm mĩ mang tính tập thể. Những trẻ có chung nguyện vọng, đồng nhất về mặt tâm tư thì chơi chung với nhau, chúng có những hành vi, cử chỉ, điệu bộ thể hiện tình cảm yêu, ghét với cùng một đối tượng như nhau.

Lí tưởng thẩm mĩ của trẻ hình thành ở mức độ sơ giản. Trẻ xuất hiện những ước mơ trở thành những hình mẫu lí tưởng mang điều tốt lành đến cho mọi người như anh hùng, bộ đội, giáo viên, bác sĩ, kĩ sư xây dựng hay hoàng tử, công chúa... Lí tưởng thẩm mĩ của trẻ cũng thể hiện ở thái độ mong muốn tạo ra cái đẹp, giữ gìn, bảo vệ cái đẹp trong tự nhiên, trong cuộc sống và trong nghệ thuật.

2. Hoạt động thẩm mĩ

Hoạt động thẩm mĩ là hình thức tập trung và mang tính thực tiễn nhất trong đời sống thẩm mĩ của trẻ. Về bản chất, hoạt động thẩm mĩ là thực tiễn hóa tri thức thẩm mĩ và tình cảm thẩm mĩ trong đời sống thẩm mĩ, trong quan hệ thẩm mĩ của con người đối với hiện thực. Đối với trẻ 5- 6 tuổi, các hoạt động thẩm mĩ chủ yếu bao gồm hoạt động nghệ thuật và hoạt động sinh hoạt hằng ngày. Chính quá trình trẻ tiếp xúc và lĩnh hội các đối tượng thẩm mĩ cụ thể, sinh động trong nghệ thuật cũng như trong cuộc sống đã tạo ra khả năng tiếp nhận và sáng tạo thẩm mĩ, tạo ra nhân cách có phẩm chất thẩm mĩ. Như vậy trong quá trình trẻ tham gia các hoạt động thẩm mĩ, sẽ thể hiện năng lực hoạt động thẩm mĩ, cụ thể:

2.1. Trong các hoạt động nghệ thuật
 
 Hoạt động nghệ thuật cơ bản mà trẻ thường tham gia đó là hoạt động tạo hình (vẽ, nặn, xé dán, xếp hình...), hoạt động âm nhạc (hát, múa...) và hoạt động văn học (đọc thơ, kể chuyện, đóng kịch...).

- Hoạt động tạo hình

Cùng với sự tích lũy của các kinh nghiệm nhận thức, năng lực thẩm mĩ, các ấn tượng, xúc cảm, tình cảm và kĩ năng vận động tinh khéo, trẻ 5 - 6 tuổi có thể sử dụng các nét liền mạch, uyển chuyển, màu sắc hài hòa để miêu tả tính trọng vẹn trong cấu trúc và bố cục hợp lí. Đồng thời, trẻ linh hoạt trong việc tạo ra các bước chuyển màu, phối màu để tạo nên hiệu quả thẩm mĩ khác nhau và thể hiện suy nghĩ, tình cảm của mình. Cách bố cục đa dạng, có chiều sâu với nhiều tầng cảnh đã khiến sản phẩm tạo hình của trẻ thể hiện được mối liên hệ chặt chẽ giữa nội dung và hình thức, tạo nên được sự sinh động, đáng yêu trong cách thể hiện các đối tượng thẩm mĩ.

Nghiên cứu sản phẩm tạo hình của trẻ, ta thấy trẻ thường miêu tả những gì trẻ thấy, trẻ biết, trẻ nghĩ theo cách cảm nhận riêng của mình chứ chưa hẳn là giống như những cái mà người lớn chúng ta nhìn thấy. Đây là một đặc điểm rất đặc trưng trong sản phẩm hoạt động của trẻ. Dưới góc nhìn của trẻ, mọi sự vật hiện tượng đều mang một vẻ đẹp rất ngộ nghĩnh, đáng yêu và đầy cảm xúc.

- Hoạt động âm nhạc

Trẻ 5 - 6 tuổi có khả năng tri giác toàn vẹn hình tượng âm nhạc. Cảm giác, tai nghe và kinh nghiệm nghe nhạc của trẻ cũng được tích lũy nhiều hơn. Trẻ biết tập trung nghe âm nhạc và có khả năng cảm nhận trạng thái chung của âm nhạc, theo dõi sự phát triển của hình tượng âm nhạc. Trẻ có thể phân biệt độ cao thấp của âm thanh hay giai điệu đi lên hay đi xuống, độ to nhỏ hay thậm chí cả sự thay đổi về âm sắc, cường độ âm thanh (mạnh/ yếu), nhịp độ (nhanh/ chậm)... Trẻ có biểu hiện về trí nhớ âm nhạc, bước đầu nắm được những ấn tượng âm nhạc được nghe.

Trẻ có những biểu hiện ổn định về mặt cảm xúc, biết hưởng ứng và thể hiện cảm xúc vui vẻ, thích thú với giai điệu mang tính chất vui vẻ, rộn rã. Bước đầu trẻ có những biểu hiện quan tâm tới nội dung bài hát với những câu hỏi: Bài hát nói về cái gì? Về ai? Trong hoạt động hát: Trẻ biết thể hiện giọng hát phù hợp với sắc thái bài hát, giọng hát đã vang hơn, âm sắc ổn định, tầm cữ giọng cũng mở rộng (Đô 1 - Đô 2). Trong hoạt động vận động theo nhạc, trẻ có khả năng vận động linh hoạt hơn với loại hình vận động phong phú hơn. Trẻ có thể vận động theo nhạc một cách nhịp nhàng, uyển chuyển ở các đội hình khác nhau, động tác truyền cảm, đôi khi có sự sáng tạo ở một mức độ nhất định. Một số trẻ có thể dễ dàng làm quen với các động tác đòi hỏi tính mềm dẻo, uyển chuyển trong múa.

- Hoạt động văn học

Khi tiếp xúc các tác phẩm văn học, trẻ chú ý tới các phương tiện biểu đạt như hình ảnh ngộ nghĩnh, đáng yêu, lời nói giàu âm thanh, hình ảnh và biểu cảm. Trẻ 5 – 6 tuổi có thể hiểu nội dung và tư tưởng của tác phẩm văn học, phân biệt đươc hình ảnh nghệ thuật và hiện thực, chỉ và nhận xét được các phương tiện biểu đạt hình tượng, ngôn ngữ, các thủ pháp nghệ thuật. Trẻ cũng có thể nắm bắt được cấu trúc, thể loại, mối quan hệ giữa hiện thực trong tác phẩm với hiện thực ngoài cuộc sống. Nhờ đó, tình cảm thẩm mĩ và thị hiếu thẩm mĩ của trẻ dần được hình thành và có tính bền vững hơn so với các lứa tuổi trước.

Khi nghe người khác đọc thơ, kể chuyện, trẻ nghe và nhận xét không chỉ về sự chính xác, diễn cảm, nét mặt biểu cảm của người đọc mà còn nhận xét về những hình ảnh đẹp, những câu nói hay và cả những nhân vật mà trẻ thích tức là ở trẻ xuất hiện khả năng đánh giá thẩm mĩ các tác phẩm nghệ thuật.

Khi tham gia các hoạt động đọc thơ, kể chuyện, đóng kịch, trẻ hòa mình vào các các nhân vật, sự kiện, đồng nhất và biến mình trong đó. Sự đồng nhất bản thân với các nhân vật khiến trẻ trẻ thể hiện những cảm mãnh liệt bằng giọng nói, cử chỉ, điệu bộ. Trẻ chú ý đến cấu trúc, tính liên kết của các hình ảnh, các sắc thái biểu cảm của mỗi câu, mỗi đoạn và tìm kiếm cách biểu đạt thích hợp cho mỗi nội dung của câu thơ, câu đối thoại. Trong khi đọc thơ, kể chuyện, trẻ bắt chước người lớn thể hiện, sau đó trẻ thể hiện tính tích cực, sáng tạo khi tái hiện lại tác phẩm.

2.2. Trong hoạt động sinh hoạt hằng ngày
 
Các công trình nghiên cứu đã chứng minh: Thông qua tri giác các đối tượng thẩm mĩ, trẻ luôn tò mò và có nhu cầu khám phá vẻ đẹp phong phú của các sự vật, hiện tượng. Trẻ có thể hiểu thấu đáo ý nghĩa các biểu tượng gần gũi và sử dụng các biểu tượng trong các hoạt động sống hằng ngày và hoạt động giao tiếp. Đặc biệt, trẻ còn có thể phát hiện ra các mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, giữa nguyên nhân và kết quả của các sự vật, hiện tượng trong cuộc sống, rút ra được bài học ứng xử cho bản thân, từ đó trẻ mong muốn và hành động hướng tới cái đẹp.

Trẻ có thể vận dụng một số khái niệm đã tích lũy được thông qua kinh nghiệm kết hợp với trí tưởng tượng để mô tả hoặc tái hiện bất kì sự vật, sự việc, hiện tượng nào mà chúng biết bằng cách dùng ngôn ngữ, điệu bộ, cử chỉ, đường nét, khoảng trống, hình thể, màu sắc để tạo nên các mẫu hình phức tạp và đặt tên các tác phẩm một cách hợp lí. Chẳng hạn, từ việc quan sát các con vật và hoạt động sống của chúng, trẻ làm điệu bộ mô phỏng dáng các con vật, mô phỏng cách con vật di chuyển hay nghe những bài thơ, bản nhạc quen thuộc, trẻ có thể bắt chước ngân nga những câu thơ, câu hát hoặc dùng từ ngữ kể lại khá chính xác một sự việc theo trình tự diễn biến...  

Cùng với sự phát triển hệ thống thứ bậc động cơ, hành động của trẻ không chỉ có mục đích thỏa mãn mong muốn, nguyện vọng của chính đứa trẻ mà còn có mục đích làm vui lòng những người xung quanh. Các hành vi của trẻ mang tính xã hội cao hơn, hướng tới những giá trị thẩm mĩ chung của toàn xã hội.

Một đặc điểm nổi bật ở trẻ 5 tuổi so với các lứa tuổi trước đó là khi tham gia vào các hoạt động thẩm mĩ, trẻ bắt đầu xuất hiện khả năng sáng tạo cái đẹp dựa trên kinh nghiệm và hiểu biết của bản thân. Sự hình thành loại hình tư duy trừu tượng cùng với trí tưởng tượng của trẻ 5 – 6 tuổi ngày càng phong phú giúp trẻ dễ dàng hơn trong  việc hình dung và cảm nhận các thuộc tính, bản chất của sự vật, hiện tượng, từ đó, trẻ có thể cải biến sự vật, hiện tượng và hành động theo cách riêng của mình. Ví dụ như trong các trò chơi đóng vai: bác sĩ, nội trợ hay bán hàng...
 

Sự phát triển tưởng tượng tích cực, bắt đầu mang tính độc lập không phụ thuộc vào các hoạt động thực tiễn giúp trẻ hình thành các hành động tưởng tượng và thực hiện hành động không cần mẫu. Chẳng hạn: trong trò chơi xây dựng,trẻ dự định dưới dạng mẫu một công trình xây dựng, sơ đồ một cách trực quan các đồ vật, hiện tượng, sự kiện và thực hiện việc xây dựng hình ảnh mới, hoàn thiện chúng bằng cách thêm các chi tiết, làm cho chúng trở nên cụ thể hơn. Chính vì vậy mà kết quả của tưởng tượng ngày càng khác so với kết quả của tư duy.
 
  • Đã phát hiện được và có hướng xử lí một cách sáng tạo các yếu tố hiện thực mà chúng cảm nhận được qua các hình tượng nghệ thuật. Đây chính là một mắt xích nhằm góp phần tích cực vào hoạt động nhận thức của trẻ và nối liền các hình tượng gần như riêng lẻ thành một khối thống nhất nhưng để làm được điều đó thì nhất thiết trí óc trẻ phải được cung cấp những chất liệu tốt cho tưởng tượng.
Như vậy, để giáo dục thẩm mĩ cho trẻ, trước hết cần tạo ra một môi trường thẩm mỹ - môi trường của cái đẹp. Từ đồ dùng trang trí,không gian sinh hoạt, vườn cây, sân chơi đến nhà bếp, nhà vệ sinh; Từ cách tổ chức các hoạt động học tập, vui chơi cho đến hoạt động lao động, sinh hoạt của chính người lớn; Từ cách ăn mặc, nói năng đến dáng điệu, cách ứng xử giữa người lớn với nhau và giữa người lớn với trẻ em... Tất cả đều được tổ chức, bố trí sao phù hợp và đẹp mắt để khơi dậy ở trẻ những xúc cảm thẩm mỹ, tăng thêm lòng hào hứng và tính tích cực cho trẻ trong mọi hoạt động hàng ngày.

Điều quan trọng hơn, trong giáo dục thẩm mỹ là biết nuôi dưỡng ở trẻ nhu cầu muốn làm cho mình trở nên đẹp. Đó là một nhu cầu cổ xưa và sâu đậm của loài người, nhưng nó có một ý nghĩa đặc biệt đối với trẻ mẫu giáo -  bước khởi đầu của một nhân cách. Nhu cầu đó là động lực thôi thúc cháu bé luôn tìm tòi, khám phá cái đẹp, mong muốn làm ra cái đẹp, làm một việc gì đó tốt lành cho mọi người. Hát, múa, vẽ, nặn, đọc thơ, kể chuyện... đều là những hoạt động làm trẻ thích thú và gợi lên nhiều xúc cảm thẩm mỹ tích cực. Làm sao để hầu hết thời gian hoạt động của trẻ nhỏ đều được dành cho việc làm ra cái đẹp. Vẽ một bức tranh tặng cô, xếp lại đồ chơi cho gọn gàng sạch sẽ khi chơi xong, hát múa cho ông bà nghe, xâu hạt hột thành vòng vàng xuyến bạc, tết những cọng rơm, ngọn cỏ thành những con vật hay nhìn người để cùng  chơi với bạn... Đó chính là khởi đầu của mọi sự sáng tạo hay nói đúng hơn đó là hoạt động tiền sáng tạo rất cần cho bất cứ ai, dù sau này họ trở thành công nhân, nông dân, nhà bác học hay người nghệ sĩ.

KẾT LUẬN

Trong môi trường giáo dục mầm non, trẻ 5 - 6 tuổi tiếp nhận "giá trị thẩm mĩ" một cách cụ thể, cảm tính và chuyển dần sang lối tiếp nhận trừu tượng, lôgic. Khi trẻ tích lũy được những ấn tượng và kiến thức đa dạng, phong phú về cái đẹp trong thiên nhiên, trong cuộc sống, trong nghệ thuật, trẻ có hứng thú, nhu cầu thẩm mĩ phong phú và phát triển khả năng sáng tạo. Với những đặc điểm phát triển thẩm mĩ như trên, giáo viên mầm non cần có nhiệm vụ giúp cho trẻ tích lũy một vốn ấn tượng và kiến thức thẩm mĩ sơ đẳng; hình thành cho trẻ những phẩm chất tâm lí - xã hội cho phép trẻ trải nghiệm, đánh giá cái đẹp của sự vật, hiện tượng để trẻ lĩnh hội và sáng tạo ra cái đẹp. Giáo viên cần tạo nhiều cơ hội, tình huống học tập cho trẻ không chỉ biết thưởng thức cái đẹp mà còn biết cải tạo và sáng tạo cái đẹp "theo qui luật của cái đẹp" (Marx).
 
dtp

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO
  • Đào Thanh Âm (chủ biên), (2001), Giáo dục mầm non, Tập 1, 2, 3, NXB ĐHQG Hà Nội.
  • Bộ giáo dục và Đào tạo, (2009) Chương trình giáo dục mầm non.
  •  Đỗ Huy, (1987), Giáo dục thẩm mỹ - Một số vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Thông tin lí luận.
  • Hilda L.Jackman (2005), Sing me a story! Tell me a song! Creative Curiculum Activities for Teachers of Young Children. Printed in the United States of American
  • L.X.Vưgotxki - Tâm lý học nghệ thuật. NXB KHXH 1981
  • L.X.Vưgotxki - Trí tưởng tượng sáng tạo ở lứa tuổi thiếu nhi. NXB Văn hoá dân tộc 2002
  • Linda Carol Edwards, (1997), The creative arts – A process approach for teachers and children, Phoenix Color Corp, New Jersey, USA.
  • Nguyễn Ánh Tuyết – Nguyễn Thị Như Mai (2011) – Sự phát triển tâm lí trẻ em lứa tuổi mầm non, NXBGDVN.
  • Nguyễn Ánh Tuyết - Giáo dục cái đẹp cho trẻ thơ, NXBGD 1992.
ThS. Nguyễn Thị Trang – ThS. Vũ Thị Ngọc Minh
Trung tâm Nghiên cứu GDMN – Viện KHGD Việt Nam

Nguồn tin: Vụ GDMN - Bộ GD&ĐT:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Giới thiệu về website

SPMAMNON.EDU.VN là trang web hỗ trợ cán bộ quản lý, giáo viên, sinh viên chuyên ngành giáo dục mầm non và cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ ở các cơ sở giáo dục mầm non và gia đình

Thống kê lượt truy cập
  • Đang truy cập41
  • Máy chủ tìm kiếm1
  • Khách viếng thăm40
  • Hôm nay15,082
  • Tháng hiện tại335,044
  • Tổng lượt truy cập10,991,716
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây