Giáo dục thẩm mỹ trong trường mầm non ươm trồng tài năng nghệ thuật cho tương lai

Chủ nhật - 16/09/2018 09:47
Giáo dục thẩm mỹ (GDTM) là bộ phận không tách rời với giáo dục trí tuệ và đạo đức, là một trong những nội dung quan trọng của giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ và cần phải tiến hành một cách nghiêm túc từ tuổi mẫu giáo. Nội dung giáo dục thẩm mỹ là gì; một số tồn tại trong dạy học nội dung nghệ thuật ở trường Mầm non
1. Giáo dục thẩm mỹ

1.1. Trong thực tế có rất nhiều quan điểm khác nhau về bản chất của cái đẹp, cái thẩm mỹ. Các nhà Triết học duy tâm quan niệm cái đẹp là hình ảnh của một ý niệm tuyệt đối, là sự linh cảm thần bí, không liên hệ gì với hiện thực và như vậy thì vai trò của GDTM đã bị phủ nhận. Mỹ học Mác – Lê nin nghiên cứu lĩnh vực thẩm mỹ như là biểu hiện chuyên biệt của các quan hệ giá trị của con người đối với thế giới và lĩnh vực hoạt động nghệ thuật của con người, đã chỉ ra bản chất của thẩm mĩ trong đời sống, trong nghệ thuật; đề ra nguyên tắc chung của việc chiếm lĩnh thế giới về mặt thẩm mỹ; phát hiện các quy luật hoạt động thẩm mỹ của con người. Mỹ học Mác – Lê nin khẳng định cái đẹp là một giá trị, nguồn gốc của cái đẹp là cuộc sống, là hiện thực xã hội, tồn tại một cách khách quan; hoạt động thực tiễn của con người là cơ sở của quan hệ thẩm mĩ đối với hiện thực. Các luận điểm cơ bản này của Mỹ học Mác – Lê nin đã chỉ rõ vai trò vô cùng lớn của GDTM cho thế hệ trẻ.

1.2. GDTM, hiểu theo nghĩa hẹp - là một quá trình, một hệ thống giáo dục xã hội, mà trong đó, chủ thể của giáo dục với một lập trường, một định hướng giá trị nhất định, bằng những phương tiện, những hình thức nhất định, tác động lên con người nhằm hình thành trong họ những nhu cầu và năng lực thẩm mỹvới tư cách là một bộ phận của Mỹ học; hiểu theo nghĩa rộng - là sự hình thành văn hoá thẩm mỹ, góp phần hoàn thiện con người văn hoá - thẩm mỹ. GDTM là nhằm mục đích hình thành các tình cảm thẩm mĩ (là phản ứng tình cảm nảy sinh trong trong sự sáng tạo và thưởng thức cái đẹp; bao hàm cả đạo đức, xúc cảm và thẩm mỹ), thị hiếu thẩm mỹ (là sở thích,năng lực đánh giá thẩm mỹ trên cơ sở của một lí tưởng thẩm mỹ nhất định) và lí tưởng thẩm mỹ (là cái đích, là khát vọng hướng tới chân, thiện, mỹ; là sự thống nhất giữa biểu tượng và quan niệm về cái đẹp trong các mối quan hệ).

1.3. GDTM là một bộ phận quan trọng trong giáo dục, đó là quá trình hoạt động chung của nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm: hình thành và phát triển ở người được giáo dục những quan hệ thẩm mỹ đúng đắn với hiện thực bằng cách thông qua các phương tiện thẩm mỹ, góp phần phát triển nhân cách toàn diện hài hoà cho người được giáo dục.

GDTM được coi là một loại hình giáo dục đặc thù tương ứng với các loại hình giáo dục khác nhằm phát triển một năng lực đặc thù ở con người - năng lực thẩm mĩ. Mục đích của chức năng giáo dục là để đạt tới một lí tưởng thẩm mỹ nhất định, còn giáo dục là phương tiện và tiền đề để con người có đủ "dân trí" hướng tới một lí tưởng thẩm mỹ nào đó (cao hoặc thấp) và bao giờ cái lí tưởng thẩm mỹ ấy cũng có chức năng như một tác nhân thúc đẩy sự phát triển và hoàn thiện con người. Nghĩa là trong chức năng giáo dục đã hàm chứa chức năng thẩm mỹ, còn chức năng thẩm mĩ sẽ làm nên tính nhân văn cho một nền giáo dục cụ thể. Như vậy, GDTM có tư cách là một bộ phận cấu thành của hệ thống giáo dục xã hội để phát triển toàn diện con người.

1.4. Giáo dục thẩm mỹ trong trường Mầm non nhằm:

- Hình thành, phát triển và tạo được những tình cảm thẩm mỹ trong quá trình cảm thụ và lĩnh hội cái đẹp trong nghệ thuật, trong tự nhiên, trong các mối quan hệ xã hội; tạo được hứng thú đối với các khía cạnh thẩm mỹ của hiện thực; cảm nhận và hiểu biết được cái đẹp trong những biểu hiện đa dạng của nó.

- Phát triển năng lực phán đoán, đánh giá thẩm mỹ, năng lực sáng tạo nghệ thuật, niềm tin thẩm mỹ; hình thành, phát triển các hứng thú, nhu cầu đối với các giá trị nghệ thuật; làm quen với quá trình sáng tạo nghệ thuật, góp phần phát triển toàn diện và hài hòa nhân cách của con người.

- Định hướng giá trị nghệ thuật và phát triển tiềm năng sáng tạo nghệ thuật cho trẻ. GDTM được xem là con đường cơ bản, có giá trị lâu dài có tác dụng định hướng thẩm mỹ đúng đắn cho trẻ; phát hiện, ươm mầm, bồi dưỡng tài năng nghệ thuật.

2. Một số tồn tại trong dạy học nội dung nghệ thuật ở trường Mầm non

2.1. Về quan niệm trong dạy học nghệ thuật

Trong môi trường giáo dục mầm non, nội dung nghệ thuật được thực hiện với tất cả trẻ, không phân biệt trẻ có năng khiếu hay không. Nếu quan niệm GDTM là “dạy năng khiếu” sẽ dẫn đến sai lầm sau: “chuyên nghiệp hóa” giờ học, phức tạp hóa nội dung dạy học, phương pháp giảng dạy không phù hợp, GV sẽ bỏ quên một bộ phận lớn trẻ trong lớp (được cho là không có năng khiếu), điều tất yếu là kết quả giờ học sẽ không đạt được mục tiêu và kém hiệu quả vì GV quan niệm nghệ thuật là năng khiếu bẩm sinh, cần để trẻ tự thể hiện (tự vẽ, tự nặn…) và người lớn không nên can thiệp vào, kết quả là phần lớn trẻ không tạo được sản phẩm nào, còn một bộ phận trẻ có năng khiếu thì các sản phẩm ngày càng khó hiểu, dị dạng. Có GV quan niệm rèn kỹ năng cho trẻ là phải “gò” trẻ theo hướng dẫn của cô, dẫn đến sự gò bó, áp đặt và kết quả là các sản phẩm của trẻ đều giống nhau, mất đi tính sáng tạo.

GV cần phải nắm được trong hướng dẫn hoạt động nghệ thuật là: giúp trẻ biến hoạt động tuỳ hứng ban đầu thành một hoạt động mang tính sáng tạo để kích thích mọi sáng kiến, ý tưởng của trẻ thành những sản phẩm phản ánh hiện thực theo con mắt trẻ thơ; cần phân biệt rõ sự khác nhau cơ bản giữa việc dạy học nghệ thuật trong chương trình giáo dục của nhà trường với dạy học nghệ thuật ở các lớp năng khiếu. Khi dạy học nghệ thuật cần phải được “phổ thông hóa” cùng với những hiểu biết về tâm, sinh lý lứa tuổi HS, năng lực sư phạm, những thuật ngữ chuyên môn mà trẻ không thể hiểu hết ý nghĩa và khái niệm.

2.2. Về kiến thức, năng lực chuyên môn và sư phạm

GV cần phải có kiến thức văn hóa, trình độ chuyên môn (bao gồm sự hiểu biết, cập nhật kiến thức lý luận, kỹ năng chuyên môn), năng lực sư phạm (bao gồm kiến thức về giáo dục học và kỹ năng nghiệp vụ) - đây là những yêu cầu hội tụ cần thiết đối với mỗi người làm nghề dạy học nói chung hay GV dạy thẩm mỹ nói riêng. Thực tế cho thấy một bộ phận không nhỏ giáo viên tham gia dạy các môn học /nội dung mang tính thẩm mỹ hiện nay còn nhiều bất cập so với đòi hỏi của yêu cầu giáo dục trong nhà trường. Cụ thể:

- Kiến thức về thẩm mỹ hạn chế:

Chưa có sự phân định rõ ràng về cái đẹp, cái xấu, cái ác; chưa thể hiện thái độ đúng đắn, sự yêu ghét rõ ràng, đó là: bảo vệ cái đẹp, đấu tranh với cái xấu; còn quan niệm: để giữ mình trong sạch chỉ cần xa lánh cái xấu.

- Năng lực “chuyên môn yếu”:

 + Dạy về Mỹ thuật, nhưng lại “chưa biết” về: tranh thiếu nhi, nghệ thuật truyền thống (như: tranh dân gian, nghệ thuật chạm khắc đình làng...), chất liệu tạo hình (lụa, sơn mài...), loại hình điêu khắc, lịch sử MT ... Khi phân tích sản phẩm bài tập nghệ thuật của trẻ (các bài: vẽ tranh, vẽ trang trí, vẽ theo mẫu), “cách nhìn” của GV lại theo kiểu MT chuyên nghiệp. GV không thể chỉ là “vẽ được tranh đẹp” mà còn phải “biết nói về tranh”, cách vẽ tranh và những kiến thức về MT phổ thông.

+ Dạy về Âm nhạc nhưng không tạo được sự hấp dẫn, không gây được không khí ÂN trong lớp học, giờ học khô cứng, nặng nề theo khuôn mẫu. Hiện nay, phương tiện dạy học ÂN đã được hỗ trợ bằng các trang thiết bị dạy học khác nhau, trong đó có đàn Oocgan điện tử, nhưng rất tiếc trên thực tế vẫn còn một số GV chưa thạo sử dụng; không những thế GV còn cần phải biết đến kiến thức về nhạc cụ dân tộc để phục vụ dạy các nội dung âm nhạc theo văn hoá vùng miền.

+ Hạn chế về khả năng tổ chức hoạt động ngoại khóa cho trẻ. Ban giám hiệu nhiều trường phàn nàn về chuyện này khi có GV chuyên ngành MT không thực hiện được một số yêu cầu như trang trí hội nghị, phòng truyền thống...; GV chuyên ngành ÂN không dàn dựng được chương trình văn nghệ, tổ chức hội diễn ...

+ Hạn chế về năng lực sử dụng ngôn ngữ khi tổ chức các hoạt động GDTM.

- Hạn chế về khả năng sư phạm:

+ Hạn chế trong dạy/tổ chức các hoạt động Mĩ thuật: Hầu hết các bài học là hoạt động thực hành giúp trẻ tiếp cận và hình thành kiến thức, kỹ năng cơ bản của hội họa, nhưng một số GV có khả năng sáng tác hội họa và làm đồ họa tốt (có khả năng trang trí nhà trường, làm quảng cáo, vẽ tranh triển lãm ...) nên rất say mê vẽ minh họa trên bảng, thậm chí vẽ trọn vẹn cả bức tranh hay hình trang trí, nêu thí dụ có nhiều lối bố cục khác nhau, vẽ đầy đủ hình của vật mẫu từ một góc nhìn chủ quan của GV... để trẻ vẽ theo. Hệ quả là GV đã biến giờ dạy học Mĩ thuật thành giờ cho trẻ sao chép theo hình vẽ thay vì hướng dẫn gợi ý hoặc sử dụng đồ dùng dạy học để trẻ thực hành theo khả năng sáng tạo (cá biệt có GV lại vẽ hộ, chữa trực tiếp vào bài vẽ; điều khiển trẻ vẽ màu theo ý mình ...), kết quả là trẻ có thể hoàn thành bài vẽ nhưng GV đã tạo ra tính thụ động và làm mất đi cái hay, cái đẹp của trẻ.

+ Hạn chế trong dạy/tổ chức các hoạt động Âm nhạc: nhiều GV có khả năng sử dụng thành thạo đàn phím điện tử, nhưng khi giảng dạy GV đã biến phương tiện dạy học thành công cụ biểu diễn (tức là tài năng phối âm phối khí của GV đã trổ tài không đúng chỗ). Không ít GV còn lẫn lộn giữa việc dạy trẻ hát với dạy xướng âm (hay thanh nhạc) ở trường chuyên nghiệp hoặc ở câu lạc bộ năng khiếu, GV thiếu sự bao quát lớp trong các giờ học, không phát hiện sửa chữa các lỗi sai của trẻ dẫn đến nhiều trẻ hát sai giai điệu; trẻ học hát chưa xong (hát chưa đúng giai điệu, sai cao độ, tiết tấu...) đã hăng hái yêu cầu trẻ tập gõ đệm, thậm chí cùng gõ đệm theo tiết tấu với nhịp hay phách của bài hát và tiếp đến “múa phụ họa” (thực ra chỉ ở mức độ vận động theo giai điệu) để rồi còn biểu diễn ở cuối giờ học. Gọi là tập biểu diễn, nhưng một số GV còn yêu cầu trẻ chuẩn bị đạo cụ, trang phục và quá chú trọng yêu cầu phải thể hiện sắc thái, tình cảm của bài hát... Do đó, tình trạng trẻ hát sai giai điệu là điều thường gặp.

- Hạn chế trong thực hiện đổi mới dạy học và kỹ năng dạy học:

+ Xu hướng đổi mới PPDH với quan điểm “dạy học tích cực”, đã đặt ra những yêu cầu đòi hỏi mọi GV phải cố gắng thực hiện trong các giờ lên lớp, nhưng phần đông GV thiếu hiểu biết về phương pháp luận của vấn đề cũng như khả năng thực hiện thiếu hiệu quả, GV thực hiện “Đổi mới PPDH” theo lối bắt chước, thiếu chủ động. Trong dạy học, GV cũng có đồ dùng trực quan, có thay đổi hình thức tổ chức dạy học bằng việc cho trẻ hoạt động theo nhóm hay trò chơi trong học tập; về PPDH có hỏi đáp, đánh giá nhận xét và một số GV còn ứng dụng công nghệ thông tin (sử dụng các hiệu ứng của phần mềm tin học trình chiếu qua máy Prozeter), băng đĩa hình, tivi, cassete... trong giờ dạy, nhưng vẫn thấy cách “đổi mới dạy học” chỉ dừng lại ở “hình thức” là chính. Phương tiện dạy học và hoạt động sư phạm của GV chưa thể hiện được sự dẫn dắt, gợi ý và tạo ra được “hoạt động học” thực sự để giúp trẻ tự chiếm lĩnh nội dung bài học.

+ GV còn lúng túng trong xây dựng “Kế hoạch tổ chức hoạt động” theo tinh thần đổi mới hoặc tổ chức dạy học theo đặc trưng của môn học hoặc của từng phân môn. Điều này thể hiện trình độ, kiến thức chuyên môn và hiểu biết nghề nghiệp của GV còn hạn chế; GV thiếu chủ động trong dạy học và thực hiện máy móc. Việc tổ chức các hoạt động GDTM còn khuôn mẫu, cứng nhắc theo kiểu “cấu trúc công viên” với các qui định sẵn có: nơi đặt vườn hoa, vườn bách thú, sân chơi, ghế đá … Trong những trò chơi đó, trẻ chỉ biết hành động một cách máy móc, không cần phải suy nghĩ tìm tòi, do đó dễ làm cho trẻ nhàm chán, làm “thui chột tài năng” của trẻ.

2.3. Những quan điểm sai lầm về Giáo dục thẩm mĩ

- Giáo dục thẩm mĩ là nội dung học phụ

Một bộ phận không nhỏ các bậc phụ huynh, thậm chí có không ít giáo viên, có quan niệm trẻ đến lớp chủ yếu là học chữ, học toán; các môn học nghệ thuật chỉ là môn phụ.

- Giáo dục thẩm mĩ là môn các môn học nghệ thuật, chỉ dành cho trẻ có năng khiếu.

Hiện nay, nhiều trường (đặc biệt là các trường vùng sâu, vùng xa) các nội dung GDTM chỉ tồn tại cho có, hầu như các trường đều không có phòng học riêng; GVMN không được đào tạo đúng ngành nên không có hoặc hạn chế về kiến thức và kỹ năng GDTM.

Trong sách Quốc học giáo khoa thư từ những năm 30, 40 của thế kỷ trước đã đề cập: “Tôi đến trường, tôi học đọc, học viết, học vẽ, học tính và các môn khác nữa... ”, gồm 4 môn học cơ bản để hình thành nên tố chất con người: học kỹ năng tiếp nhận kiến thức (học đọc), học kỹ năng diễn đạt tư duy (học viết), học kỹ năng cảm nhận cái đẹp và biểu đạt cảm xúc (học vẽ) và học kỹ năng tư duy logic, chính xác (học tính); nội dung đánh giá cuối học kì, cuối năm trước đây cũng gồm 4 mặt: Đức, trí, thể, mĩ. Như vậy, GDTM có tầm quan trọng không kém môn toán và văn. Tại các trường quốc tế, luôn có phòng học GDTM riêng và giáo viên phải có bằng chuyên biệt.

- Trong Giáo dục thẩm mĩ, dạy mỹ thuật là dạy vẽ, dạy âm nhạc là dạy hát:

Bộ Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ: “học mỹ thuật giúp các em cảm nhận và vận dụng  cái hay, cái đẹp của mỹ thuật vào học tập, sinh hoạt hàng ngày” (Hỏi đáp về dạy học mỹ thuật lớp 1,2,3 - Nguyễn Quốc Toản, 2004). Tiêu chí này được hiểu rộng hơn là học thẩm mỹ là để có những hiểu biết về cái đẹp ứng dụng vào cuộc sống.

Nghệ thuật là những môn học rất thú vị, bao gồm nhiều môn học (Thí dụ, nội dung mỹ thuật gồm: vẽ, thủ công, điêu khắc, trang trí…) mà qua đó trẻ cảm nhận, khám phá được cái đẹp, khám phá những quy tắc qua nội dung được học và những bài tập thực hành. Nếu chỉ dạy kỹ năng, tức là chúng ta đang đào tạo những người thợ; nếu chỉ dạy cảm nhận thì cũng chưa đủ, làm sao trẻ có thể hiểu hết về cái đẹp và biết đưa cái đẹp ứng dụng vào cuộc sống. Học nghệ thuật phải để trẻ được sáng tạo và phát huy trí tưởng tượng.

dtp

 

Nguồn tin: Vụ GDMN - Bộ GD&ĐT:

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Mã bảo mật   

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Giới thiệu về website

SPMAMNON.EDU.VN là trang web hỗ trợ cán bộ quản lý, giáo viên, sinh viên chuyên ngành giáo dục mầm non và cha mẹ trẻ trong chăm sóc giáo dục trẻ ở các cơ sở giáo dục mầm non và gia đình

Thống kê lượt truy cập
  • Đang truy cập77
  • Máy chủ tìm kiếm3
  • Khách viếng thăm74
  • Hôm nay3,629
  • Tháng hiện tại366,565
  • Tổng lượt truy cập11,511,166
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây